中文圣经

MA-THI-Ơ 27

đã biết 0/432

dào le zǎo chén , zhòng jì sī zhǎng hé mín jiān de zhǎng lǎo dà jiā shāng yì yào zhì sǐ yē sū ,

Đến sáng mai, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân hội nghị nghịch cùng Đức Chúa Jêsus để giết Ngài.

jiù bǎ tā kǔn bǎng , jiě qù , jiāo gěi xún fǔ bǐ lā duō 。

Khi đã trói Ngài rồi, họ đem nộp cho Phi-lát, là quan tổng đốc.

zhè shí hòu , mài yē sū de yóu dà kàn jiàn yē sū yǐ jīng dìng le zuì , jiù hòu huǐ , bǎ nà sān shí kuài qián ná huí lái gěi jì sī zhǎng hé zhǎng lǎo , shuō :

Khi ấy, Giu-đa, là kẻ đã phản Ngài, thấy Ngài bị án, thì ăn năn, bèn đem ba chục miếng bạc trả cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão,

。」:「!」

「 wǒ mài le wú gū zhī rén de xuè shì yǒu zuì le 。」 tā men shuō :「 nà yǔ wǒ men yǒu shén me xiāng gān ? nǐ zì jǐ chéng dāng ba !」

mà nói rằng: Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội! Song họ đáp rằng: Sự đó can gì đến chúng ta? Mặc kệ ngươi.

殿

yóu dà jiù bǎ nà yín qián diū zài diàn lǐ , chū qù diào sǐ le 。

Giu-đa bèn ném bạc vào đền thờ, liền trở ra, đi thắt cổ.

:「。」

jì sī zhǎng shí qǐ yín qián lái , shuō :「 zhè shì xuè jià , bù kě fàng zài kù lǐ 。」

Nhưng các thầy tế lễ cả lượm bạc và nói rằng: Không có phép để bạc nầy trong kho thánh, vì là giá của huyết.

tā men shāng yì , jiù yòng nà yín qián mǎi le yáo hù de yí kuài tián , wèi yào mái zàng wài xiāng rén 。

Rồi họ bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ.

」。

suǒ yǐ nà kuài tián zhí dào jīn rì hái jiào zuò 「 xuè tián 」。

Nhân đó, ruộng ấy đến nay còn gọi là “ruộng huyết.”

:「

zhè jiù yìng le xiān zhī yē lì mǐ de huà , shuō :「 tā men yòng nà sān shí kuài qián , jiù shì bèi gū dìng zhī rén de jià qián , shì yǐ sè liè rén zhōng suǒ gū dìng de ,

Bấy giờ được ứng nghiệm lời đấng tiên tri Giê-rê-mi đã nói rằng: Họ lấy ba chục bạc, là giá của Đấng đã bị định bởi con cái Y-sơ-ra-ên,

。」

mǎi le yáo hù de yí kuài tián ; zhè shì zhào zhe zhǔ suǒ fēn fù wǒ de 。」

và đưa bạc ấy mà mua ruộng của kẻ làm đồ gốm y như lời Chúa đã truyền cho ta.

:「?」:「。」

yē sū zhàn zài xún fǔ miàn qián ; xún fǔ wèn tā shuō :「 nǐ shì yóu tài rén de wáng ma ?」 yē sū shuō :「 nǐ shuō de shì 。」

Đức Chúa Jêsus đứng trước quan tổng đốc, quan hỏi rằng: Có phải ngươi là Vua của dân Giu-đa không? Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Thật như lời.

tā bèi jì sī zhǎng hé zhǎng lǎo kòng gào de shí hòu , shén me dōu bù huí dá 。

Trong lúc các thầy tế lễ cả và các trưởng lão kiện Ngài, Ngài không đối đáp gì hết.

:「?」

bǐ lā duō jiù duì tā shuō :「 tā men zuò jiàn zhèng gào nǐ zhè me duō de shì , nǐ méi yǒu tīng jiàn ma ?」

Phi-lát bèn nói cùng Ngài rằng: Họ có nhiều điều làm chứng kiện ngươi, ngươi há không nghe đến sao?

yē sū réng bù huí dá , lián yí jù huà yě bù shuō , yǐ zhì xún fǔ shèn jué xī qí 。

Song Đức Chúa Jêsus không đáp lại một lời gì, đến nỗi làm cho quan tổng đốc lấy làm lạ lắm.

xún fǔ yǒu yí gè cháng lì , měi féng zhè jié qī , suí zhòng rén suǒ yào de shì fàng yí gè qiú fàn gěi tā men 。

Phàm đến ngày lễ Vượt qua, quan tổng đốc thường có lệ tha một tên tù tùy ý dân muốn.

dāng shí yǒu yí gè chū míng de qiú fàn jiào bā lā bā 。

Đang lúc ấy, có một tên phạm nổi tiếng, tên là Ba-ra-ba.

:「?」

zhòng rén jù jí de shí hòu , bǐ lā duō jiù duì tā men shuō :「 nǐ men yào wǒ shì fàng nǎ yí gè gěi nǐ men ? shì bā lā bā ne ? shì chēng wéi jī dū de yē sū ne ?」

Khi chúng đã nhóm lại, thì Phi-lát hỏi rằng: Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay là Jêsus gọi là Christ?

xún fǔ yuán zhī dào tā men shì yīn wèi jí dù cái bǎ tā jiě le lái 。

Vì quan ấy biết bởi lòng ghen ghét nên chúng đã nộp Ngài.

:「。」

zhèng zuò táng de shí hòu , tā de fū rén dǎ fā rén lái shuō :「 zhè yì rén de shì , nǐ yì diǎn bù kě guǎn , yīn wèi wǒ jīn tiān zài mèng zhōng wèi tā shòu le xǔ duō de kǔ 。」

Quan tổng đốc đang ngồi trên tòa án, vợ người sai thưa cùng người rằng: Đừng làm gì đến người công bình đó; vì hôm nay tôi đã bởi cớ người mà đau đớn nhiều trong chiêm bao.

jì sī zhǎng hé zhǎng lǎo tiǎo suō zhòng rén , qiú shì fàng bā lā bā , chú miè yē sū 。

Song các thầy tế lễ cả và các trưởng lão dỗ chúng hãy xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Chúa Jêsus

:「?」:「。」

xún fǔ duì zhòng rén shuō :「 zhè liǎng gè rén , nǐ men yào wǒ shì fàng nǎ yí gè gěi nǐ men ne ?」 tā men shuō :「 bā lā bā 。」

Quan tổng đốc cất tiếng hỏi rằng: Trong hai người nầy, các ngươi muốn ta tha ai? Chúng thưa rằng: Ba-ra-ba.

:「?」:「!」

bǐ lā duō shuō :「 zhè yàng , nà chēng wéi jī dū de yē sū wǒ zěn me bàn tā ne ?」 tā men dōu shuō :「 bǎ tā dīng shí zì jià !」

Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào? Chúng đều trả lời rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!

:「?」便:「!」

xún fǔ shuō :「 wèi shén me ne ? tā zuò le shén me è shì ne ?」 tā men biàn jí lì dì hǎn zhe shuō :「 bǎ tā dīng shí zì jià !」

Quan hỏi: Song người nầy đã làm việc dữ gì? Chúng lại kêu la lớn hơn rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!

:「。」

bǐ lā duō jiàn shuō yě wú jì yú shì , fǎn yào shēng luàn , jiù ná shuǐ zài zhòng rén miàn qián xǐ shǒu , shuō :「 liú zhè yì rén de xuè , zuì bú zài wǒ , nǐ men chéng dāng ba 。」

Phi-lát thấy mình không thắng nổi chi hết, mà sự ồn ào càng thêm, thì lấy nước rửa tay trước mặt thiên hạ, mà nói rằng: Ta không có tội về huyết của người nầy; điều đó mặc kệ các ngươi.

:「。」

zhòng rén dōu huí dá shuō :「 tā de xuè guī dào wǒ men hé wǒ men de zǐ sūn shēn shàng 。」

Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!

yú shì bǐ lā duō shì fàng bā lā bā gěi tā men , bǎ yē sū biān dǎ le , jiāo gěi rén dīng shí zì jià 。

Phi-lát bèn tha tên Ba-ra-ba cho chúng; và khiến đánh đòn Đức Chúa Jêsus, đoạn giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự.

xún fǔ de bīng jiù bǎ yē sū dài jìn yá mén , jiào quán yíng de bīng dōu jù jí zài tā nà lǐ 。

Lính của quan tổng đốc bèn đem Đức Chúa Jêsus vào công đường, và nhóm cả cơ binh vây lấy Ngài.

穿

tā men gěi tā tuō le yī fu , chuān shàng yí jiàn zhū hóng sè páo zǐ ,

Họ cổi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài.

:「!」

yòng jīng jí biān zuò guān miǎn , dài zài tā tóu shàng , ná yì gēn wěi zǐ fàng zài tā yòu shǒu lǐ , guì zài tā miàn qián , xì nòng tā , shuō :「 gōng xǐ , yóu tài rén de wáng a !」

Đoạn, họ đương một cái mão gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữu Ngài; rồi quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo báng rằng: Lạy Vua của dân Giu-đa.

yòu tǔ tuò mò zài tā liǎn shàng , ná wěi zǐ dǎ tā de tóu 。

Họ nhổ trên Ngài, và lấy cây sậy đánh đầu Ngài.

穿

xì nòng wán le , jiù gěi tā tuō le páo zǐ , réng chuān shàng tā zì jǐ de yī fu , dài tā chū qù , yào dīng shí zì jià 。

Khi đã nhạo báng Ngài rồi, thì họ cổi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự.

西

tā men chū lái de shí hòu , yù jiàn yí gè gǔ lì nài rén , míng jiào xī mén , jiù miǎn qiǎng tā tóng qù , hǎo bèi zhe yē sū de shí zì jià 。

Khi họ đi ra, gặp một người ở thành Sy-ren tên là Si-môn; thì bắt người vác cây thập tự của Đức Chúa Giê-xu.

」。

dào le yí gè dì fāng míng jiào gè gè tā , yì sī jiù shì 「 dú lóu dì 」。

Đã đi tới một chỗ gọi là Gô-gô-tha, nghĩa là chỗ cái Sọ,

bīng dīng ná kǔ dǎn tiáo hé de jiǔ gěi yē sū hē ; tā cháng le , jiù bù kěn hē 。

họ cho Ngài uống rượu trộn với mật đắng; song Ngài nếm, thì không chịu uống.

tā men jì jiāng tā dīng zài shí zì jià shàng , jiù niān jiū fēn tā de yī fu ,

Họ đã đóng đinh Ngài trên cây thập tự rồi, thì bắt thăm mà chia nhau áo xống của Ngài.

yòu zuò zài nà lǐ kān shǒu tā 。

Rồi họ ngồi đó mà canh giữ Ngài.

:「。」

zài tā tóu yǐ shàng ān yí gè pái zi , xiě zhe tā de zuì zhuàng , shuō :「 zhè shì yóu tài rén de wáng yē sū 。」

Phía trên đầu Ngài họ để cái bảng đề chữ chỉ về án Ngài, rằng: Người Nầy Là Jêsus, Vua Dân Giu-đa.

dāng shí , yǒu liǎng gè qiáng dào hé tā tóng dīng shí zì jià , yí gè zài yòu biān , yí gè zài zuǒ biān 。

Cũng lúc đó, họ đóng đinh hai tên trộm cướp với Ngài, một tên ở cây thập tự bên hữu, một tên ở cây thập tự bên tả.

cóng nà lǐ jīng guò de rén jī qiào tā , yáo zhe tóu , shuō :

Những kẻ đi ngang qua đó chê cười Ngài, lắc đầu,

殿 !」

「 nǐ zhè chāi huǐ shèng diàn 、 sān rì yòu jiàn zào qǐ lái de , kě yǐ jiù zì jǐ ba ! nǐ rú guǒ shì shén de ér zi , jiù cóng shí zì jià shàng xià lái ba !」

mà nói rằng: Ngươi là kẻ phá đền thờ và dựng lại trong ba ngày, hãy cứu lấy mình đi! Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời, hãy xuống khỏi cây thập tự!

jì sī zhǎng hé wén shì bìng zhǎng lǎo yě shì zhè yàng xì nòng tā , shuō :

Các thầy tế lễ cả, các thầy thông giáo và các trưởng lão cũng nhạo Ngài rằng:

「 tā jiù le bié rén , bù néng jiù zì jǐ 。 tā shì yǐ sè liè de wáng , xiàn zài kě yǐ cóng shí zì jià shàng xià lái , wǒ men jiù xìn tā 。

Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi cây thập tự đi, thì chúng ta mới tin.

:『 。』」

tā yǐ kào shén , shén ruò xǐ yuè tā , xiàn zài kě yǐ jiù tā ; yīn wèi tā céng shuō :『 wǒ shì shén de ér zi 。』」

Nó nhờ cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu nó thì bây giờ Ngài phải giải cứu cho, vì nó đã nói rằng: Ta là Con Đức Chúa Trời.

nà hé tā tóng dīng de qiáng dào yě shì zhè yàng dì jī qiào tā 。

Hai tên trộm cướp bị đóng đinh trên cây thập tự với Ngài cũng nhiếc móc Ngài như vậy.

cóng wǔ zhèng dào shēn chū , biàn dì dōu hēi àn le 。

Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt.

:「?」:「 ?」

yuē zài shēn chū , yē sū dà shēng hǎn zhe shuō :「 yǐ lì ! yǐ lì ! lā mǎ sā bā gè dà ní ?」 jiù shì shuō :「 wǒ de shén ! wǒ de shén ! wèi shén me lí qì wǒ ?」

Ước chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?

:「!」

zhàn zài nà lǐ de rén , yǒu de tīng jiàn jiù shuō :「 zhè ge rén hū jiào yǐ lì yà ne !」

Có mấy người đứng đó, nghe kêu, thì nói rằng: Nó kêu Ê-li.

nèi zhōng yǒu yí gè rén gǎn jǐn pǎo qù , ná hǎi róng zhàn mǎn le cù , bǎng zài wěi zǐ shàng , sòng gěi tā hē 。

Liền có một người trong bọn họ chạy lấy một miếng bông đá, và thấm đầy dấm, để trên đầu cây sậy mà đưa cho Ngài uống.

:「。」

qí yú de rén shuō :「 qiě děng zhe , kàn yǐ lì yà lái jiù tā bù lái 。」

Nhưng kẻ khác thì lại nói rằng: Hãy để vậy, coi thử có Ê-li đến giải cứu nó chăng.

yē sū yòu dà shēng hǎn jiào , qì jiù duàn le 。

Đức Chúa Jêsus lại kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn.

殿

hū rán , diàn lǐ de màn zǐ cóng shàng dào xià liè wèi liǎng bàn , dì yě zhèn dòng , pán shí yě bēng liè ,

Và nầy, cái màn trong đền thờ, bị xé ra làm hai từ trên chí dưới, đất thì rúng động, đá lớn bể ra,

fén mù yě kāi le , yǐ shuì shèng tú de shēn tǐ duō yǒu qǐ lái de 。

mồ mả mở ra, và nhiều thây của các thánh qua đời được sống lại.

dào yē sū fù huó yǐ hòu , tā men cóng fén mù lǐ chū lái , jìn le shèng chéng , xiàng xǔ duō rén xiǎn xiàn 。

Sau khi Đức Chúa Jêsus đã sống lại, các thánh đó ra khỏi mồ mả, đi vào thành thánh, và hiện ra cho nhiều người thấy.

:「 !」

bǎi fū zhǎng hé yì tóng kān shǒu yē sū de rén kàn jiàn dì zhèn bìng suǒ jīng lì de shì , jiù jí qí hài pà , shuō :「 zhè zhēn shì shén de ér zi le !」

Thầy đội và những lính cùng với người canh giữ Đức Chúa Jêsus, thấy đất rúng động và những điều xảy đến, thì sợ hãi lắm, mà nói rằng: Thật người nầy là Con Đức Chúa Trời.

yǒu hǎo xiē fù nǚ zài nà lǐ , yuǎn yuǎn dì guān kàn ; tā men shì cóng jiā lì lì gēn suí yē sū lái fú shì tā de 。

Vả, có nhiều người đàn bà đứng coi ở đàng xa, là người đã đi theo Đức Chúa Jêsus từ xứ Ga-li-lê để hầu việc Ngài.

西西

nèi zhōng yǒu mǒ dà lā de mǎ lì yà , yòu yǒu yǎ gè hé yuē xī de mǔ qīn mǎ lì yà , bìng yǒu xī bì tài liǎng gè ér zi de mǔ qīn 。

Trong những đàn bà đó có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri, mẹ của Gia-cơ và Giô-sép, và mẹ hai con trai của Xê-bê-đê.

dào le wǎn shàng , yǒu yí gè cái zhǔ , míng jiào yuē sè , shì yà lì mǎ tài lái de , tā yě shì yē sū de mén tú 。

Đến chiều tối, có một người giàu, ở thành A-ri-ma-thê, tên là Giô-sép, chính là một môn đồ của Đức Chúa Jêsus,

zhè rén qù jiàn bǐ lā duō , qiú yē sū de shēn tǐ ; bǐ lā duō jiù fēn fù gěi tā 。

đến nơi Phi-lát mà xin xác Đức Chúa Jêsus. Phi-lát bèn truyền cho.

yuē sè qǔ le shēn tǐ , yòng gān jìng xì má bù guǒ hǎo ,

Giô-sép lấy xác Ngài mà bọc trong tấm vải liệm trắng,

ān fàng zài zì jǐ de xīn fén mù lǐ , jiù shì tā záo zài pán shí lǐ de 。 tā yòu bǎ dà shí tou gǔn dào mù mén kǒu , jiù qù le 。

và đưa để trong một cái huyệt mới mà người đã khiến đục cho mình trong hòn đá; đoạn, lăn một hòn đá lớn đến trước cửa mồ, rồi đi.

yǒu mǒ dà lā de mǎ lì yà hé nà ge mǎ lì yà zài nà lǐ , duì zhe fén mù zuò zhe 。

Có Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri khác ở đó, ngồi đối ngang huyệt.

cì rì , jiù shì yù bèi rì de dì èr tiān , jì sī zhǎng hé fǎ lì sài rén jù jí lái jiàn bǐ lā duō , shuō :

Đến ngày mai (là ngày sau ngày sắm sửa), các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si cùng nhau đến Phi-lát

:『。』

「 dà rén , wǒ men jì dé nà yòu huò rén de hái huó zhe de shí hòu céng shuō :『 sān rì hòu wǒ yào fù huó 。』

mà nói rằng: Thưa chúa, chúng tôi nhớ người gian dối nầy, khi còn sống, có nói rằng: Khỏi ba ngày thì ta sẽ sống lại.

:『。』!」

yīn cǐ , qǐng fēn fù rén jiāng fén mù bǎ shǒu tuǒ dàng , zhí dào dì sān rì , kǒng pà tā de mén tú lái , bǎ tā tōu le qù , jiù gào sù bǎi xìng shuō :『 tā cóng sǐ lǐ fù huó le 。』 zhè yàng , nà hòu lái de mí huò bǐ xiān qián de gèng lì hài le !」

Vậy, xin hãy cắt người canh mả cẩn thận cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đồ nó đến lấy trộm xác đi, rồi nói với chúng rằng: Ngài đã từ kẻ chết sống lại. Sự gian dối sau đó sẽ tệ hơn sự gian dối trước.

:「。」

bǐ lā duō shuō :「 nǐ men yǒu kān shǒu de bīng , qù ba ! jìn nǐ men suǒ néng de bǎ shǒu tuǒ dàng 。」

Phi-lát nói với họ rằng: Các ngươi có lính canh; hãy đi canh giữ theo ý các ngươi.

tā men jiù dài zhe kān shǒu de bīng tóng qù , fēng le shí tou , jiāng fén mù bǎ shǒu tuǒ dàng 。

Vậy, họ đi, niêm phong mả Ngài lại, cắt lính canh giữ, lấy làm chắc chắn lắm.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.