中文圣经

NÊ-HÊ-MI 4

đã biết 0/246

cān bā lā tīng jiàn wǒ men xiū zào chéng qiáng jiù fā nù , dà dà nǎo hèn , chī xiào yóu dà rén ,

Khi San-ba-lát hay rằng chúng tôi xây sửa vách thành lại, thì lấy làm giận dữ, và nhạo báng người Giu-đa.

:「?」

duì tā dì xiong hé sā mǎ lì yà de jūn bīng shuō :「 zhè xiē ruǎn ruò de yóu dà rén zuò shén me ne ? yào bǎo hù zì jǐ ma ? yào xiàn jì ma ? yào yí rì chéng gōng ma ? yào cóng tǔ duī lǐ ná chū huǒ shāo de shí tou zài lì qiáng ma ?」

Người nói trước mặt anh em người và đạo quân Sa-ma-ri rằng: Những người Giu-đa yếu nhược ấy làm gì? Chớ thì người ta sẽ để cho chúng nó làm lụng sao? Chúng nó há sẽ dâng những của lễ ư? Trong một ngày chúng nó há sẽ làm xong sao? Đá mà đã cháy thiêu rồi, chúng nó há có thể do đống bụi đất mà lấy nó làm thành đá lại được sao?

:「。」

yà mén rén duō bǐ yǎ zhàn zài páng biān , shuō :「 tā men suǒ xiū zào de shí qiáng , jiù shì hú li shàng qù yě bì cī dǎo 。」

Tô-bi-gia, người Am-môn, ở bên cạnh người, nói rằng: Vả lại, cái vách bằng đá mà những kẻ ấy xây cất kia, nếu có một con chồn leo lên đó, tất sẽ đánh nó sập xuống liền.

使使

wǒ men de shén a , qiú nǐ chuí tīng , yīn wèi wǒ men bèi miǎo shì 。 qiú nǐ shǐ tā men de huǐ bàng guī yú tā men de tóu shàng , shǐ tā men zài lǔ dào zhī dì zuò wéi lüè wù 。

Hỡi Đức Chúa Trời của chúng tôi ôi! hãy nghe; vì chúng tôi bị khinh dể; xin hãy đổ lại sự nhục của chúng nó trên đầu của họ, và hãy phó chúng nó làm mồi trong một xứ bắt người ta làm phu tù kia;

使

bú yào zhē yǎn tā men de zuì niè , bú yào shǐ tā men de zuì è cóng nǐ miàn qián tú mǒ , yīn wèi tā men zài xiū zào de rén yǎn qián rě dòng nǐ de nù qì 。

chớ che lấp gian ác của chúng nó, đừng xóa tội lỗi chúng nó sạch khỏi trước mặt Chúa; vì trước mặt các thợ xây cất, chúng nó có chọc Chúa giận.

zhè yàng , wǒ men xiū zào chéng qiáng , chéng qiáng jiù dōu lián luò , gāo zhì yí bàn , yīn wèi bǎi xìng zhuān xīn zuò gōng 。

Vậy, chúng tôi xây cất vách thành lại, và toàn vách thành đều dính liền nhau và lên đến phân nửa bề cao; vì dân sự chuyên thành làm công việc.

cān bā lā 、 duō bǐ yǎ 、 ā lā bó rén 、 yà mén rén 、 yà shí tū rén tīng jiàn xiū zào yē lù sā lěng chéng qiáng , zhuó shǒu jìn xíng dǔ sè pò liè de dì fāng , jiù shèn fā nù 。

Xảy khi San-ba-lát, Tô-bi-giam những người A rạp, dân Am-môn, và dân Aùch-đốt hay rằng việc tu bổ vách thành Giê-ru-sa-lem tấn tới, và các nơi hư lũng hầu lấp lành, thì chúng nó lấy làm giận dữ,

使

dà jiā tóng móu yào lái gōng jī yē lù sā lěng , shǐ chéng nèi rǎo luàn 。

bèn tập lập nhau hết thảy đặng đến hãm đánh Giê-ru-sa-lem và làm cho nó bị rối loạn.

rán ér , wǒ men dǎo gào wǒ men de shén , yòu yīn tā men de yuán gù , jiù pài rén kān shǒu , zhòu yè fáng bèi 。

Nhưng chúng tôi cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời chúng tôi, và lập kẻ ngày và đêm canh giữ họ.

:「。」

yóu dà rén shuō :「 huī tǔ shàng duō , káng tái de rén lì qi yǐ jīng shuāi bài , suǒ yǐ wǒ men bù néng jiàn zào chéng qiáng 。」

Người Giu-đa nói: Còn nhiều đồ hư nát, và sức lực của kẻ khiêng gánh đã yếu mỏn; chúng ta không thế xây cất vách thành được.

:「使。」

wǒ men de dí rén qiě shuō :「 chèn tā men bù zhī bú jiàn , wǒ men jìn rù tā men zhōng jiān , shā tā men , shǐ gōng zuò zhǐ zhù 。」

Các thù nghịch chúng tôi nói rằng: Chúng nó sẽ không hay không thấy điều đó, cho đến chừng chúng ta đến giữa chúng nó, giết chúng nó đi, và làm cho chúng nó ngưng công.

:「。」

nà kào jìn dí rén jū zhù de yóu dà rén shí cì cóng gè chù lái jiàn wǒ men , shuō :「 nǐ men bì yào huí dào wǒ men nà lǐ 。」

Song dân Giu-đa ở giữa họ, đến mười lần báo cáo chúng tôi rằng: Thù nghịch bởi bốn phương chạy đến.

使

suǒ yǐ wǒ shǐ bǎi xìng gè àn zōng zú ná dāo 、 ná qiāng 、 ná gōng zhàn zài chéng qiáng hòu biān dī wā de kōng chù 。

Tôi bèn lập những đồn trong các nơi thấp ở phía sau vách thành, và tại những nơi trống trải; tôi đặt dân sự từng họ hàng tại đó, có cầm gươm, giáo và cung.

:「。」

wǒ chá kàn le , jiù qǐ lái duì guì zhòu 、 guān zhǎng , hé qí yú de rén shuō :「 bú yào pà tā men ! dāng jì niàn zhǔ shì dà ér kě wèi de 。 nǐ men yào wèi dì xiong 、 ér nǚ 、 qī zǐ 、 jiā chǎn zhēng zhàn 。」

Tôi xem xét, chổi dậy, và nói với các người tước vị, quan tướng, và dân sự còn sót lại rằng: Chớ sợ chúng; khá nhớ Chúa là Đấng cực đại và đáng kính, hãy chiến đấu cho anh em mình, cho con trai con gái mình, cho vợ và nhà của mình.

chóu dí tīng jiàn wǒ men zhī dào tā men de xīn yì , jiàn shén yě pò huài tā men de jì móu , jiù bù lái le 。 wǒ men dōu huí dào chéng qiáng nà lǐ , gè zuò gè de gōng 。

Khi các thù nghịch chúng tôi hay rằng chúng tôi đã được báo tin, và Đức Chúa Trời có bại mưu của chúng nó, thì hết thảy chúng tôi đều trở lại nơi vách thành, ai nấy về làm công việc mình.

穿

cóng nà rì qǐ , wǒ de pú rén yí bàn zuò gōng , yí bàn ná qiāng 、 ná dùn pái 、 ná gōng 、 chuān kǎi jiǎ , guān zhǎng dōu zhàn zài yóu dà zhòng rén de hòu biān 。

Từ ngày đó, phân nửa số đầy tớ tôi làm công việc, còn phân nửa kia cầm cây giáo, khiên, cung, và giáp; các quan trưởng đều đứng ở sau cả nhà Giu-đa.

xiū zào chéng qiáng de , káng tái cái liào de , dōu yì shǒu zuò gōng yì shǒu ná bīng qì 。

Những kẻ xây sửa vách thành, những kẻ khiêng gánh, và những kẻ chất lên, một tay thì làm công việc, còn một tay thì cầm binh khí mình.

xiū zào de rén dōu yāo jiān pèi dāo xiū zào , chuī jiǎo de rén zài wǒ páng biān 。

Những kẻ xây sửa, ai nấy đều có cây gươm mình đeo nơi lưng, rồi xây sửa; còn kẻ thổi kèn thì ở bên tôi.

:「

wǒ duì guì zhòu 、 guān zhǎng , hé qí yú de rén shuō :「 zhè gōng chéng hào dà , wǒ men zài chéng qiáng shàng xiāng lí shèn yuǎn ;

Tôi nói với các người tước vị, các quan trưởng, và dân sự còn sót lại, mà rằng: Công việc thì lớn và dài, còn chúng ta làm rải rác ở trên vách, người này cách xa người kia.

。」

nǐ men tīng jiàn jiǎo shēng zài nǎ lǐ , jiù jù jí dào wǒ men nà lǐ qù 。 wǒ men de shén bì wèi wǒ men zhēng zhàn 。」

Tại nơi nào các ngươi nghe tiếng kèn, thì hãy nhóm lại cùng chúng ta ở đó; Đức Chúa Trời của chúng ta sẽ chiến đấu cho chúng ta.

宿

yú shì , wǒ men zuò gōng , yí bàn ná bīng qì , cóng tiān liàng zhí dào xīng xiù chū xiàn de shí hòu 。

Chúng tôi làm công việc là như vậy; phân nửa họ cầm cây giáo từ lúc rạng đông cho đến khi sao mọc.

:「宿。」

nà shí , wǒ yòu duì bǎi xìng shuō :「 gè rén hé tā de pú rén dāng zài yē lù sā lěng zhù sù , hǎo zài yè jiān bǎo shǒu wǒ men , bái zhòu zuò gōng 。」

Trong lúc ấy, tôi cũng nói với dân sự rằng: Mỗi người hãy cùng tôi tớ mình ngủ đêm tại trong Giê-ru-sa-lem, để ban đêm chúng phòng giữ, và ban ngày làm công việc.

zhè yàng , wǒ hé dì xiōng pú rén , bìng gēn cóng wǒ de hù bīng dōu bù tuō yī fu , chū qù dǎ shuǐ yě dài bīng qì 。

Nào tôi, nào anh em tôi, nào các người đầy tớ tôi, nào những lính canh theo tôi, chẳng có ai cởi áo mình ra, mỗi người đều đeo binh khí nơi bên hữu mình.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.