中文圣经

DÂN SỐ 16

đã biết 0/352

便

lì wèi de zēng sūn 、 gē xiá de sūn zi 、 yǐ sī hā de ér zi kě lā , hé lǚ biàn zǐ sūn zhōng yǐ lì yā de ér zi dà tān 、 yà bǐ lán , yǔ bǐ lè de ér zi ān ,

Vả, Cô-rê, con trai của Dít-sê-ha, cháu của Kê-hát, chít của Lê-vi, giục theo mình Đa-than và A-bi-ram, con trai của Ê-li-áp, cùng với Oân, con trai của Phê-lết, cháu Ru-bên.

西

bìng yǐ sè liè huì zhōng de èr bǎi wǔ shí gè shǒu lǐng , jiù shì yǒu míng wàng xuǎn rù huì zhōng de rén , zài mó xī miàn qián yì tóng qǐ lái ,

Các người nầy với hai trăm năm mươi người trong dân Y-sơ-ra-ên, vốn là quan tướng của hội, nghị viên của hội đồng, có danh giá, đều hiệp nhau dấy nghịch cùng Môi-se và A-rôn,

西:「?」

jù jí gōng jī mó xī 、 yà lún , shuō :「 nǐ men shàn zì zhuān quán ! quán huì zhòng gè gè jì shì shèng jié , yē hé huá yě zài tā men zhōng jiān , nǐ men wèi shén me zì gāo , chāo guò yē hé huá de huì zhòng ne ?」

mà rằng: Thôi đủ rồi! vì cả hội chúng đều là thánh, và Đức Giê-hô-va ngự ở trong; vậy sao các ngươi tự cao trên hội chúng của Đức Giê-hô-va?

西

mó xī tīng jiàn zhè huà jiù fǔ fú zài dì ,

Môi-se nghe điều đó, bèn sấp mặt xuống đất,

:「

duì kě lā hé tā yì dǎng de rén shuō :「 dào le zǎo chén , yē hé huá bì zhǐ shì shuí shì shǔ tā de , shuí shì shèng jié de , jiù jiào shuí qīn jìn tā ; tā suǒ jiǎn xuǎn de shì shuí , bì jiào shuí qīn jìn tā 。

nói cùng Cô-rê và hết thảy kẻ hiệp với người mà rằng: Sáng mai, Đức Giê-hô-va sẽ tỏ cho biết ai thuộc về Ngài và ai là thánh; Ngài sẽ khiến người đó lại gần Ngài, tức khiến người nào mà Ngài đã chọn lấy đến gần Ngài.

kě lā a , nǐ men yào zhè yàng xíng , nǐ hé nǐ de yì dǎng yào ná xiāng lú lái 。

Hỡi Cô-rê, hãy làm điều nầy: Ngươi và hết thảy kẻ hiệp với ngươi hãy cầm lư hương;

!」

míng rì , zài yē hé huá miàn qián , bǎ huǒ shèng zài lú zhōng , bǎ xiāng fàng zài qí shàng 。 yē hé huá jiǎn xuǎn shuí , shuí jiù wèi shèng jié 。 nǐ men zhè lì wèi de zǐ sūn shàn zì zhuān quán le !」

sáng mai hãy để lửa ở trong và bỏ hương ở trên trước mặt Đức Giê-hô-va. Người nào mà Đức Giê-hô-va sẽ chọn, ấy là người thánh. Hỡi con cháu Lê-vi, thôi đủ rồi!

西:「

mó xī yòu duì kě lā shuō :「 lì wèi de zǐ sūn nǎ , nǐ men tīng wǒ shuō !

Môi-se nói cùng Cô-rê rằng: Hỡi con cháu Lê-vi, bây giờ hãy nghe.

使

yǐ sè liè de shén cóng yǐ sè liè huì zhōng jiàng nǐ men fēn bié chū lái , shǐ nǐ men qīn jìn tā , bàn yē hé huá zhàng mù de shì , bìng zhàn zài huì zhòng miàn qián tì tā men dāng chāi 。

Về phần các ngươi, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã biệt các ngươi riêng ra với hội chúng Y-sơ-ra-ên, và khiến các ngươi đến gần Ngài đặng làm công việc trong đền tạm của Đức Giê-hô-va, đặng chực hầu việc trước mặt hội chúng, việc ấy há là nhỏ mọn sao?

使

yē hé huá yòu shǐ nǐ hé nǐ yí qiè dì xiong — lì wèi de zǐ sūn — yì tóng qīn jìn tā , zhè qǐ wèi xiǎo shì ? nǐ men hái yāo qiú jì sī de zhí rèn ma ?

Ngài biểu ngươi, hết thảy anh em ngươi với con cháu Lê-vi đến gần Ngài, các ngươi lại còn kiếm chức tế lễ nữa sao?

?」

nǐ hé nǐ yì dǎng de rén jù jí shì yào gōng jī yē hé huá 。 yà lún suàn shén me , nǐ men jìng xiàng tā fā yuàn yán ne ?」

Vì vậy, ngươi và toàn bè đảng của ngươi đều hiệp lại nghịch cùng Đức Giê-hô-va! Vì A-rôn là ai mà các ngươi lằm bằm cùng người?

西:「

mó xī dǎ fā rén qù zhào yǐ lì yā de ér zi dà tān 、 yà bǐ lán 。 tā men shuō :「 wǒ men bú shàng qù !

Môi-se sai đòi Đa-than và A-bi-ram, con trai Ê-li-áp; nhưng hai người đáp rằng: Chúng tôi không đi lên đâu.

nǐ jiāng wǒ men cóng liú nǎi yǔ mì zhī dì lǐng shàng lái , yào zài kuàng yě shā wǒ men , zhè qǐ wèi xiǎo shì ? nǐ hái yào zì lì wèi wáng xiá guǎn wǒ men ma ?

Há là điều nhỏ mọn mà ngươi đã đem chúng ta ra khỏi xứ đượm sữa và mật, đặng làm cho chúng ta chết trong đồng vắng, mà ngươi lại còn muốn lấn lướt trên chúng ta nữa sao?

!」

bìng qiě nǐ méi yǒu jiāng wǒ men lǐng dào liú nǎi yǔ mì zhī dì , yě méi yǒu bǎ tián dì hé pú táo yuán gěi wǒ men wèi yè 。 nán dào nǐ yào wān zhè xiē rén de yǎn jīng ma ? wǒ men bú shàng qù !」

Quả thật, ngươi không có dẫn chúng ta đến trong một xứ đượm sữa và mật đâu, ngươi không cho chúng ta đồng ruộng hay là vườn nho làm sản nghiệp đâu! Ngươi toan khoét mắt của dân nầy ư? Chúng ta không đi lên đâu.

西:「。」

mó xī jiù shèn fā nù , duì yē hé huá shuō :「 qiú nǐ bú yào xiǎng shòu tā men de gòng wù 。 wǒ bìng méi yǒu duó guò tā men yì pǐ lǘ , yě méi yǒu hài guò tā men yí gè rén 。」

Môi-se nổi giận lắm, thưa cùng Đức Giê-hô-va rằng: Xin đừng kể đến của lễ chay chúng nó nữa; tôi không có bắt nơi chúng nó một con lừa nào, và tôi cũng không có làm hại một ai trong bọn chúng nó.

西:「

mó xī duì kě lā shuō :「 míng tiān , nǐ hé nǐ yì dǎng de rén , bìng yà lún , dōu yào zhàn zài yē hé huá miàn qián ;

Đoạn, Môi-se nói cùng Cô-rê rằng: Ngày mai ngươi và toàn bè đảng ngươi với A-rôn hãy ra mắt Đức Giê-hô-va.

。」

gè rén yào ná yí gè xiāng lú , gòng èr bǎi wǔ shí gè , bǎ xiāng fàng zài shàng miàn , dào yē hé huá miàn qián 。 nǐ hé yà lún yě gè ná zì jǐ de xiāng lú 。」

Mỗi người hãy lấy lư hương mình bỏ hương ở trong, rồi mỗi người dâng lư hương mình trước mặt Đức Giê-hô-va, tức là hai trăm năm mươi cái lư hương. Ngươi và A-rôn, mỗi người cũng phải có lư hương mình.

西

yú shì tā men gè rén ná yí gè xiāng lú , shèng shàng huǒ , jiā shàng xiāng , tóng mó xī 、 yà lún zhàn zài huì mù mén qián 。

Vậy, mỗi người lấy lư hương mình để lửa vào, bỏ hương trên, rồi đứng tại cửa hội mạc luôn với Môi-se và A-rôn.

西

kě lā zhāo jù quán huì zhòng dào huì mù mén qián , yào gōng jī mó xī 、 yà lún ; yē hé huá de róng guāng jiù xiàng quán huì zhòng xiǎn xiàn 。

Cô-rê hiệp cả hội chúng nghịch lại Môi-se và A-rôn tại cửa hội mạc; sự vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng cả hội chúng.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī 、 yà lún shuō :

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se và A-rôn rằng:

。」

「 nǐ men lí kāi zhè huì zhòng , wǒ hǎo zài zhuǎn yǎn zhī jiān bǎ tā men miè jué 。」

Hãy tách khỏi giữa hội chúng nầy, thì ta sẽ tiêu diệt nó trong một lát.

西:「 ?」

mó xī 、 yà lún jiù fǔ fú zài dì , shuō :「 shén , wàn rén zhī líng de shén a , yì rén fàn zuì , nǐ jiù yào xiàng quán huì zhòng fā nù ma ?」

Hai người bèn sấp mặt xuống mà rằng: Oâi Đức Chúa Trời, là Chúa của thần linh mọi xác thịt! chỉ có một người phạm tội mà Chúa lại nổi giận cùng cả hội chúng sao?

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

:『。』」

「 nǐ fēn fù huì zhòng shuō :『 nǐ men lí kāi kě lā 、 dà tān 、 yà bǐ lán zhàng péng de sì wéi 。』」

Hãy nói cùng hội chúng mà rằng: Hãy dan ra khỏi chung quanh chỗ ở của Cô-rê, Đa-than, và A-bi-ram.

西

mó xī qǐ lái , wǎng dà tān 、 yà bǐ lán nà lǐ qù ; yǐ sè liè de zhǎng lǎo yě suí zhe tā qù 。

Môi-se đứng dậy, đi lại phía Đa-than và A-bi-ram; các trưởng lão Y-sơ-ra-ên đi theo người.

:「。」

tā fēn fù huì zhòng shuō :「 nǐ men lí kāi zhè è rén de zhàng péng ba , tā men de wù jiàn , shén me dōu bù kě mō , kǒng pà nǐ men xiàn zài tā men de zuì zhōng , yǔ tā men yì tóng xiāo miè 。」

Người nói cùng hội chúng rằng: Bây giờ, hãy dan ra khỏi trại của các người hung ác nầy, và chớ đụng đến vật chi thuộc về họ, e các ngươi sẽ chết vì những tội của họ chăng.

yú shì zhòng rén lí kāi kě lā 、 dà tān 、 yà bǐ lán zhàng péng de sì wéi 。 dà tān 、 yà bǐ lán dài zhe qī zǐ 、 ér nǚ 、 xiǎo hái zi , dōu chū lái , zhàn zài zì jǐ de zhàng péng mén kǒu 。

Vậy, dân sự dan ra khỏi tứ phía chỗ ở của Cô-rê, Đa-than, và A-bi-ram. Đa-than và A-bi-ram ra đứng tại cửa trại với vợ, con trai và con nít mình.

西:「使

mó xī shuō :「 wǒ xíng de zhè yí qiè shì běn bú shì píng wǒ zì jǐ xīn yì xíng de , nǎi shì yē hé huá dǎ fā wǒ xíng de , bì yǒu zhèng jù shǐ nǐ men zhī dào 。

Môi-se bèn nói rằng: Nhờ điều nầy các ngươi sẽ biết rằng Đức Giê-hô-va có sai ta đặng làm các điều nầy, và ta chẳng làm sự chi tự ta.

zhè xiē rén sǐ ruò yǔ shì rén wú yì , huò shì tā men suǒ zāo de yǔ shì rén xiāng tóng , jiù bú shì yē hé huá dǎ fā wǒ lái de 。

Nếu các kẻ đó chết như mọi người khác chết, nếu họ đồng chịu số phận chung như mọi người, thì Đức Giê-hô-va không có sai ta.

使。」

tǎng ruò yē hé huá chuàng zuò yí jiàn xīn shì , shǐ dì kāi kǒu , bǎ tā men hé yí qiè shǔ tā men de dōu tūn xià qù , jiào tā men huó huó dì zhuì luò yīn jiān , nǐ men jiù míng bái zhè xiē rén shì miǎo shì yē hé huá le 。」

Nhưng nếu Đức Giê-hô-va làm một sự thật mới, nếu đất hả miệng ra nuốt họ và mọi món chi thuộc về họ, nếu họ còn đang sống mà xuống âm phủ, thì các ngươi sẽ biết rằng những người nầy có khinh bỉ Đức Giê-hô-va.

西

mó xī gāng shuō wán le zhè yí qiè huà , tā men jiǎo xià de dì jiù kāi le kǒu ,

Vừa khi Môi-se nói dứt các lời nầy, đất ngay dưới chân họ bèn nứt ra;

bǎ tā men hé tā men de jiā juàn , bìng yí qiè shǔ kě lā de rén dīng 、 cái wù , dōu tūn xià qù 。

hả miệng nuốt họ, gia quyến và hết thảy phe Cô-rê cùng tài sản của chúng nó.

zhè yàng , tā men hé yí qiè shǔ tā men de , dōu huó huó dì zhuì luò yīn jiān ; dì kǒu zài tā men shàng tóu zhào jiù hé bì , tā men jiù cóng huì zhōng miè wáng 。

Các người đó còn đang sống và mọi vật chi thuộc về họ đều xuống âm phủ; đất lấp lại và chúng nó bị diệt khỏi hội chúng.

:「。」

zài tā men sì wéi de yǐ sè liè zhòng rén tīng tā men hū háo , jiù dōu táo pǎo , shuō :「 kǒng pà dì yě bǎ wǒ men tūn xià qù 。」

Cả Y-sơ-ra-ên ở xung quanh nghe tiếng họ la, đều chạy trốn, vì nói rằng: Chúng ta hãy coi chừng, kẻo đất nuốt chúng ta chăng!

yòu yǒu huǒ cóng yē hé huá nà lǐ chū lái , shāo miè le nà xiàn xiāng de èr bǎi wǔ shí gè rén 。

Rồi một ngọn lửa từ Đức Giê-hô-va lòe ra thiêu hóa hai trăm năm mươi người đã dâng hương.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

「 nǐ fēn fù jì sī yà lún de ér zi yǐ lì yà sā cóng huǒ zhōng jiǎn qǐ nà xiē xiāng lú lái , bǎ huǒ sā zài bié chù , yīn wèi nà xiē xiāng lú shì shèng de 。

Hãy nói với Ê-lê-a-sa, con trai thầy tế lễ A-rôn, biểu lượm các lư hương ra khỏi chỗ lửa cháy, và đổ lửa của các lư hương nơi xa, vì lư hương đã nên thánh.

。」

bǎ nà xiē fàn zuì 、 zì hài jǐ mìng zhī rén de xiāng lú , jiào rén chuí chéng piān zi , yòng yǐ bāo tán 。 nà xiē xiāng lú běn shì tā men zài yē hé huá miàn qián xiàn guò de , suǒ yǐ shì shèng de , bìng qiě kě yǐ gěi yǐ sè liè rén zuò jì hào 。」

Còn những lư hương của các người đã phạm tội cùng sanh mạng mình, người ta phải lấy làm thành những tấm dát mỏng để bọc bàn thờ. Bởi các lư hương đã dâng trước mặt Đức Giê-hô-va đã thành thánh; những tấm dát đó sẽ dùng làm một dấu cho dân Y-sơ-ra-ên.

yú shì jì sī yǐ lì yà sā jiāng bèi shāo zhī rén suǒ xiàn de tóng xiāng lú ná lái , rén jiù chuí chū lái , yòng yǐ bāo tán ,

Vậy, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, lấy những lư hương bằng đồng của các người bị thiêu đã dâng lên, và người ta làm thành những tấm dát mỏng để bọc bàn thờ.

使西

gěi yǐ sè liè rén zuò jì niàn , shǐ yà lún hòu yì zhī wài de rén bù dé jìn qián lái zài yē hé huá miàn qián shāo xiāng , miǎn de tā zāo kě lā hé tā yì dǎng suǒ zāo de 。 zhè nǎi shì zhào yē hé huá jiè zhe mó xī suǒ fēn fù de 。

Aáy là một kỷ niệm cho dân Y-sơ-ra-ên, để người nào ngoại dòng A-rôn chớ đến gần đặng xông hương trước mặt Đức Giê-hô-va, kẻo e đồng số phận cùng Cô-rê và bè đảng người, theo lời Đức Giê-hô-va đã cậy Môi-se truyền dạy.

西:「。」

dì èr tiān , yǐ sè liè quán huì zhòng dōu xiàng mó xī 、 yà lún fā yuàn yán shuō :「 nǐ men shā le yē hé huá de bǎi xìng le 。」

Ngày mai, cả hội dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm cùng Môi-se và A-rôn mà rằng: Hai người đã làm chết dân của Đức Giê-hô-va.

西

huì zhòng jù jí gōng jī mó xī 、 yà lún de shí hòu , xiàng huì mù guān kàn , bú liào , yǒu yún cǎi zhē gài le , yē hé huá de róng guāng xiǎn xiàn 。

Khi hội chúng đang hiệp nhau nghịch cùng Môi-se và A-rôn, thì ngó về hướng hội mạc, xảy thấy trụ mây bao phủ hội mạc, và sự vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra.

西

mó xī 、 yà lún jiù lái dào huì mù qián 。

Môi-se và A-rôn đến đứng trước hội mạc,

西

yē hé huá fēn fù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

。」

「 nǐ men lí kāi zhè huì zhòng , wǒ hǎo zài zhuǎn yǎn zhī jiān bǎ tā men miè jué 。」 tā men èr rén jiù fǔ fú yú dì 。

Hãy dan ra khỏi giữa hội chúng nầy, thì ta sẽ tiêu diệt nó trong một lát. Nhưng hai người sấp mặt xuống đất,

西:「忿。」

mó xī duì yà lún shuō :「 ná nǐ de xiāng lú , bǎ tán shàng de huǒ shèng zài qí zhōng , yòu jiā shàng xiāng , kuài kuài dài dào huì zhòng nà lǐ , wèi tā men shú zuì ; yīn wèi yǒu fèn nù cóng yē hé huá nà lǐ chū lái , wēn yì yǐ jīng fā zuò le 。」

rồi Môi-se nói cùng A-rôn rằng: Hãy cầm lấy lư hương để lửa từ trên bàn thờ vào, bỏ hương lên trên, mau mau đi đến hội chúng và làm lễ chuộc tội cho họ; vì sự thạnh nộ của Đức Giê-hô-va đã nổi lên, và tai vạ đã phát khởi.

西

yà lún zhào zhe mó xī suǒ shuō de ná lái , pǎo dào huì zhōng , bú liào , wēn yì zài bǎi xìng zhōng yǐ jīng fā zuò le 。 tā jiù jiā shàng xiāng , wèi bǎi xìng shú zuì 。

A-rôn bèn cầm lấy lư hương y như Môi-se đã biểu, chạy đến giữa hội chúng; kìa, tai vạ đã phát khởi giữa dân sự. A-rôn bèn bỏ hương vào, và làm lễ chuộc tội cho dân sự.

tā zhàn zài huó rén sǐ rén zhōng jiān , wēn yì jiù zhǐ zhù le 。

Người đứng giữa kẻ chết và kẻ sống, thì tai vạ bèn ngừng lại.

chú le yīn kě lā shì qíng sǐ de yǐ wài , zāo wēn yì sǐ de , gòng yǒu yí wàn sì qiān qī bǎi rén 。

Có mười bốn ngàn bảy trăm người chết vì tai vạ nầy, trừ ra những kẻ đã bị chết vì cớ Cô-rê.

西

yà lún huí dào huì mù mén kǒu , dào mó xī nà lǐ , wēn yì yǐ jīng zhǐ zhù le 。

Đoạn, A-rôn trở về cùng Môi-se tại cửa hội mạc, rồi tai vạ ngừng lại.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.