中文圣经

DÂN SỐ 31

đã biết 0/297

西

yē hé huá fēn fù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

。」

「 nǐ yào zài mǐ diàn rén shēn shàng bào yǐ sè liè rén de chóu , hòu lái yào guī dào nǐ liè zǔ nà lǐ 。」

Hãy báo thù dân Ma-đi-an cho dân Y-sơ-ra-ên; rồi ngươi sẽ được về cùng tổ phụ.

西:「

mó xī fēn fù bǎi xìng shuō :「 yào cóng nǐ men zhōng jiān jiào rén dài bīng qì chū qù gōng jī mǐ diàn , hǎo zài mǐ diàn rén shēn shàng wèi yē hé huá bào chóu 。

Vậy, Môi-se truyền cho dân sự rằng: Trong các ngươi hãy sắm sửa binh khí mà ra trận hãm đánh dân Ma-đi-an đặng báo thù dân đó cho Đức Giê-hô-va.

。」

cóng yǐ sè liè zhòng zhī pài zhōng , měi zhī pài yào dǎ fā yì qiān rén qù dǎ zhàng 。」

Về mỗi chi phái Y-sơ-ra-ên, các ngươi phải sai một ngàn lính ra trận.

yú shì cóng yǐ sè liè qiān wàn rén zhōng , měi zhī pài jiāo chū yì qiān rén , gòng yí wàn èr qiān rén , dài zhe bīng qì yù bèi dǎ zhàng 。

Vậy, trong dân Y-sơ-ra-ên người ta cứ mỗi chi phái chọn một ngàn lính, là mười hai ngàn người sắm sửa binh khí đặng ra trận.

西

mó xī jiù dǎ fā měi zhī pài de yì qiān rén qù dǎ zhàng , bìng dǎ fā jì sī yǐ lì yà sā de ér zi fēi ní hā tóng qù ; fēi ní hā shǒu lǐ ná zhe shèng suǒ de qì mǐn hé chuī dà shēng de hào tǒng 。

Môi-se sai mười hai ngàn người đó ra trận, tức là sai một ngàn người về mỗi chi phái, với Phi-nê-a, con trai của Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, đem đi theo mình, những khí giới thánh cùng kèn có tiếng vang.

西

tā men jiù zhào yē hé huá suǒ fēn fù mó xī de , yǔ mǐ diàn rén dǎ zhàng , shā le suǒ yǒu de nán dīng 。

Vậy, chúng giao chiến cùng dân Ma-đi-an, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se, và giết hết thảy nam đinh.

zài suǒ shā de rén zhōng , shā le mǐ diàn de wǔ wáng , jiù shì yǐ wèi 、 lì jīn 、 sū ěr 、 hù ěr 、 lì bā , yòu yòng dāo shā le bǐ ěr de ér zi bā lán 。

Trong các người bị giết chúng cũng giết năm vua Ma-đi-an, là: Ê-vi, Rê-kem, Xu-rơ, Hu-rơ, và Rê-ba; cũng lấy gươm giết Ba-la-am, con trai của Bê-ô.

yǐ sè liè rén lǔ le mǐ diàn rén de fù nǚ hái zi , bìng jiāng tā men de shēng chù 、 yáng qún , hé suǒ yǒu de cái wù dōu duó le lái , dàng zuò lǔ wù ,

Dân Y-sơ-ra-ên bắt đàn bà và con nít Ma-đi-an dẫn theo, cướp hết thảy súc vật, bầy chiên và của cải họ,

yòu yòng huǒ fén shāo tā men suǒ zhù de chéng yì hé suǒ yǒu de yíng zhài ,

đốt hết những thành, nhà ở, và hương thôn chúng nó,

bǎ yí qiè suǒ duó de 、 suǒ lǔ de , lián rén dài shēng chù dōu dài le qù ,

cũng lấy đem theo hết thảy của đoạt được, bất k” người hay vật.

西

jiāng suǒ lǔ de rén , suǒ duó de shēng chù 、 cái wù , dōu dài dào mó yā píng yuán , zài yuē dàn hé biān yǔ yē lì gē xiāng duì de yíng pán , jiāo gěi mó xī hé jì sī yǐ lì yà sā , bìng yǐ sè liè de huì zhòng 。

Chúng dẫn những kẻ bị bắt và những của đoạt được đến cho Môi-se, cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và cho hội dân Y-sơ-ra-ên đang đóng trại tại đồng bằng Mô-áp, gần sông Giô-đanh, đối ngang Giê-ri-cô.

西

mó xī hé jì sī yǐ lì yà sā , bìng huì zhòng yí qiè de shǒu lǐng , dōu chū dào yíng wài yíng jiē tā men 。

Bấy giờ, Môi-se, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và hết thảy hội trưởng đi ra đón rước chúng binh ngoài trại quân.

西

mó xī xiàng dǎ zhàng huí lái de jūn zhǎng , jiù shì qiān fū cháng 、 bǎi fū zhǎng , fā nù ,

Môi-se nổi giận cùng các quân trưởng, tức là quan tướng một ngàn quân và quan tướng một trăm quân đi đánh giặc nầy trở về.

:「

duì tā men shuō :「 nǐ men yào cún liú zhè yí qiè fù nǚ de huó mìng ma ?

Môi-se nói cùng họ rằng: Các ngươi để hết thảy người nữ còn sống sao?

zhè xiē fù nǚ yīn bā lán de jì móu , jiào yǐ sè liè rén zài pí ěr de shì shàng dé zuì yē hé huá , yǐ zhì yē hé huá de huì zhòng zāo yù wēn yì 。

Kìa, ấy là chúng nó theo mưu kế của Ba-la-am mà dụ dỗ dân Y-sơ-ra-ên cúng thờ Phê-ô, và phạm một tội trọng cùng Đức Giê-hô-va; và tội đó xui cho hội chúng của Đức Giê-hô-va bị tai vạ.

suǒ yǐ , nǐ men yào bǎ yí qiè de nán hái hé suǒ yǒu yǐ jià de nǚ zǐ dōu shā le 。

Vậy bây giờ, hãy giết hết thảy nam đinh trong bọn con trẻ, và giết người nữ nào đã kết bạn cùng một người nam;

dàn nǚ hái zi zhōng , fán méi yǒu chū jià de , nǐ men dōu kě yǐ cún liú tā de huó mìng 。

nhưng hãy để sống cho các ngươi hết thảy con gái chưa hề kết bạn cùng người nam.

nǐ men yào zài yíng wài zhù zhā qī rì ; fán shā le rén de , hé yí qiè mō le bèi shā de , bìng nǐ men suǒ lǔ lái de rén kǒu , dì sān rì , dì qī rì , dōu yào jié jìng zì jǐ ,

Còn về phần các ngươi, hãy đóng trại ngoài trại quân trong bảy ngày. Ai có giết một người và có đụng đến một xác chết, thì ai đó cùng kẻ bị bắt, phải dọn cho mình được sạch ngày thứ ba và ngày thứ bảy.

。」

yě yào yīn yí qiè de yī fú 、 pí wù 、 shān yáng máo zhī de wù , hé gè yàng de mù qì , jié jìng zì jǐ 。」

Cũng phải làm cho sạch hết thảy áo xống, mọi vật bằng da, mọi vật bằng lông dê, và mọi đồ đạc bằng cây.

:「西

jì sī yǐ lì yà sā duì dǎ zhàng huí lái de bīng dīng shuō :「 yē hé huá suǒ fēn fù mó xī lǜ fǎ zhōng de tiáo lì nǎi shì zhè yàng :

Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, nói cùng những lính trận đi về, mà rằng: Nầy là điều luật pháp dạy mà Đức Giê-hô-va đã truyền cho Môi-se:

jīn 、 yín 、 tóng 、 tiě 、 xī 、 qiān ,

vàng, bạc, đồng, sắt, thiếc, chì,

fán néng jiàn huǒ de , nǐ men yào jiào tā jīng huǒ jiù wèi jié jìng , rán ér hái yào yòng chú wū huì de shuǐ jié jìng tā ; fán bù néng jiàn huǒ de , nǐ men yào jiào tā guò shuǐ 。

tức là mọi vật đưa vào lửa được, thì các ngươi phải đưa ngang qua lửa đặng luyện nó; nhưng người ta cũng phải dùng nước tẩy uế mà làm cho nó được sạch nữa. Còn mọi vật chi không đưa qua lửa được, thì phải ngâm nó trong nước.

。」

dì qī rì , nǐ men yào xǐ yī fu , jiù wèi jié jìng , rán hòu kě yǐ jìn yíng 。」

Ngày thứ bảy các ngươi phải giặt áo xống mình, thì sẽ được sạch; đoạn mới được vào trại quân.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va lại phán cùng Môi-se rằng:

「 nǐ hé jì sī yǐ lì yà sā , bìng huì zhòng de gè zú zhǎng , yào jì suàn suǒ lǔ lái de rén kǒu hé shēng chù de zǒng shù 。

Ngươi, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và các quan trưởng của những tông tộc, hãy dựng sổ về của giặc mà người ta đã đoạt được, nào người, nào vật,

bǎ suǒ lǔ lái de fēn zuò liǎng bàn : yí bàn guī yǔ chū qù dǎ zhàng de jīng bīng , yí bàn guī yǔ quán huì zhòng 。

rồi chia của đó cho các người đã ra trận và cho cả hội chúng.

yòu yào cóng chū qù dǎ zhàng suǒ dé de rén kǒu 、 niú 、 lǘ 、 yáng qún zhōng , měi wǔ bǎi qǔ yī , zuò wéi gòng wù fèng gěi yē hé huá 。

Trong phần thuộc về quân binh đã ra trận, hoặc người, hoặc bò, hoặc lừa hay chiên, ngươi phải cứ thâu một phần trong năm trăm mà đóng thuế cho Đức Giê-hô-va,

cóng tā men yí bàn zhī zhōng , yào qǔ chū lái jiāo gěi jì sī yǐ lì yà sā , zuò wéi yē hé huá de jǔ jì 。

tức phải thâu thuế đó trong phân nửa thuộc về quân binh và giao cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va.

。」

cóng yǐ sè liè rén de yí bàn zhī zhōng , jiù shì cóng rén kǒu 、 niú 、 lǘ 、 yáng qún 、 gè yàng shēng chù zhōng , měi wǔ shí qǔ yī , jiāo gěi kān shǒu yē hé huá zhàng mù de lì wèi rén 。」

Còn trong phân nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, hoặc người, hoặc bò, hoặc lừa hay chiên, tức các súc vật, ngươi phải cứ mỗi năm chục mà để riêng ra một, và giao cho người Lê-vi có chức phận coi sóc đền tạm của Đức Giê-hô-va.

西西

yú shì mó xī hé jì sī yǐ lì yà sā zhào yē hé huá suǒ fēn fù mó xī de xíng le 。

Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, làm y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

chú le bīng dīng suǒ duó de cái wù yǐ wài , suǒ lǔ lái de : yáng liù shí qī wàn wǔ qiān zhī ;

Vả, của giặc còn lại mà quân binh cướp lấy được, là sáu trăm bảy mươi lăm ngàn con chiên cái;

niú qī wàn èr qiān zhī ;

bảy mươi hai ngàn con bò,

lǘ liù wàn yī qiān pǐ ;

sáu mươi mốt ngàn con lừa đực.

nǚ rén gòng sān wàn èr qiān kǒu , dōu shì méi yǒu chū jià de 。

Người nữ chưa kết bạn cùng người nam nào, hết thảy được ba mươi hai ngàn người.

chū qù dǎ zhàng zhī rén de fēn , jiù shì tā men suǒ dé de nà yí bàn , gòng jì yáng sān shí sān wàn qī qiān wǔ bǎi zhī ,

Phân nửa thuộc về kẻ đã đi trận, là ba trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm con chiên cái,

cóng qí zhōng guī yē hé huá wèi gòng wù de , yǒu liù bǎi qī shí wǔ zhī ;

đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là sáu trăm bảy mươi lăm con;

niú sān wàn liù qiān zhī , cóng qí zhōng guī yē hé huá wèi gòng wù de , yǒu qī shí èr zhī ;

ba mươi sáu ngàn con bò, đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là bảy mươi hai con;

lǘ sān wàn líng wǔ bǎi pǐ , cóng qí zhōng guī yē hé huá wèi gòng wù de , yǒu liù shí yī pǐ ;

ba ngàn năm trăm con lừa đực, và đóng thuế cho Đức Giê-hô-va sáu mươi mốt con;

rén yí wàn liù qiān kǒu , cóng qí zhōng guī yē hé huá de , yǒu sān shí èr kǒu 。

mười sáu ngàn người, và đóng thuế cho Đức Giê-hô-va là ba mươi hai người.

西西

mó xī bǎ gòng wù , jiù shì guī yǔ yē hé huá de jǔ jì , jiāo gěi jì sī yǐ lì yà sā , shì zhào yē hé huá suǒ fēn fù mó xī de 。

Môi-se giao cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ của thuế làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

西。(

yǐ sè liè rén suǒ dé de nà yí bàn , jiù shì mó xī cóng dǎ zhàng de rén qǔ lái fēn gěi tā men de 。(

Phân nửa kia thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, tức là phân nửa mà Môi-se chia ra với phân nửa của quân binh đã đi trận,

huì zhòng de nà yí bàn yǒu : yáng sān shí sān wàn qī qiān wǔ bǎi zhī ;

phân nửa nầy thuộc về hội chúng, số là ba trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm con chiên cái,

niú sān wàn liù qiān zhī ;

ba mươi sáu ngàn con bò,

lǘ sān wàn líng wǔ bǎi pǐ ;

ba mươi ngàn năm trăm con lừa,

。)

rén yí wàn liù qiān kǒu 。)

và mười sáu ngàn người.

西西

wú lùn shì rén kǒu shì shēng chù , mó xī měi wǔ shí qǔ yī , jiāo gěi kān shǒu yē hé huá zhàng mù de lì wèi rén , shì zhào yē hé huá suǒ fēn fù mó xī de 。

Trong phân nửa nầy thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, Môi-se cứ mỗi năm chục thì để riêng ra một, bất luận người hay vật, và giao cho người Lê-vi có chức phận coi sóc đền tạm của Đức Giê-hô-va, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn mình.

西

dài lǐng qiān jūn de gè jūn zhǎng , jiù shì qiān fū cháng 、 bǎi fū zhǎng , dōu jìn qián lái jiàn mó xī ,

Những quan trưởng, tức là quan tướng một ngàn quân và quan tướng một trăm quân, đến gần Môi-se

:「

duì tā shuō :「 pú rén quán xià de bīng yǐ jīng jì suàn zǒng shù , bìng bù duǎn shǎo yì rén 。

mà rằng: Những kẻ tôi tớ ông đã dựng sổ chiến sĩ, là người ở dưới quyền chúng tôi, và không thiếu một tên.

。」

rú jīn wǒ men jiāng gè rén suǒ dé de jīn qì , jiù shì jiǎo liàn zǐ 、 zhuó zǐ 、 dǎ yìn de jiè zhǐ 、 ěr huán 、 shǒu chuàn , dōu sòng lái wèi yē hé huá de gòng wù , hǎo zài yē hé huá miàn qián wèi wǒ men de shēng mìng shú zuì 。」

Mỗi người trong chúng tôi có đem đến đồ bằng vàng mình đã được, hoặc dây chuyền, hoặc vòng, hoặc cà-rá, hoặc hoa tai, hoặc kiềng, làm lễ vật dâng cho Đức Giê-hô-va đặng chuộc tội cho mình trước mặt Ngài.

西

mó xī hé jì sī yǐ lì yà sā jiù shōu le tā men de jīn zǐ , dōu shì dǎ chéng de qì mǐn 。

Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, bèn nhận lãnh vàng, và hết thảy đồ trang sức làm công kỹ.

qiān fū cháng 、 bǎi fū zhǎng suǒ xiàn gěi yē hé huá wèi jǔ jì de jīn zǐ gòng yǒu yí wàn liù qiān qī bǎi wǔ shí shè kè lè 。

Hết thảy vàng về lễ vật mà những quan tướng một ngàn quân và quan tướng một trăm quân dâng cho Đức Giê-hô-va, cộng là mười sáu ngàn bảy trăm năm mươi siếc-lơ.

gè bīng dīng dōu wèi zì jǐ duó le cái wù 。

Vả, mỗi người trong quân binh đều có cướp lấy vật cho mình.

西

mó xī hé jì sī yǐ lì yà sā shōu le qiān fū cháng 、 bǎi fū zhǎng de jīn zǐ , jiù dài jìn huì mù , zài yē hé huá miàn qián zuò wéi yǐ sè liè rén de jì niàn 。

Vậy, Môi-se và Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, nhận lãnh vàng của quan tướng ngàn quân và trăm quân, rồi đem vào hội mạc làm kỷ niệm về dân Y-sơ-ra-ên trước mặt Đức Giê-hô-va.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.