中文圣经

DÂN SỐ 32

đã biết 0/306

便

lǚ biàn zǐ sūn hé jiā dé zǐ sūn de shēng chù jí qí zhòng duō ; tā men kàn jiàn yǎ xiè dì hé jī liè dì shì kě mù fàng shēng chù zhī dì ,

Vả, con cháu Ru-bên cùng con cháu Gát có bầy súc vật rất nhiều; thấy xứ Gia-ê-xe và xứ Ga-la-át là đất tiện hiệp nuôi bầy súc vật:

西

jiù lái jiàn mó xī hé jì sī yǐ lì yà sā , bìng huì zhòng de shǒu lǐng , shuō :

bèn đến thưa cùng Môi-se, Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, và các hội trưởng mà rằng:

「 yà dà lù 、 dǐ běn 、 yǎ xiè 、 níng lā 、 xī shí běn 、 yǐ lì yà lì 、 shì bān 、 ní bō 、 bǐ wěn ,

A-ta-rốt, Đi-bôn, Gia-ê-xe, Nim-ra, Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, Sê-bam, Nê-bô và Bê-ôn,

」;

jiù shì yē hé huá zài yǐ sè liè huì zhòng qián miàn suǒ gōng qǔ zhī dì , shì kě mù fàng shēng chù zhī dì , nǐ pú rén yě yǒu shēng chù 」;

xứ mà Đức Giê-hô-va đã đánh bại trước mặt hội chúng Y-sơ-ra-ên, là một xứ tiện hiệp nuôi bầy súc vật, và các tôi tớ ông có bầy súc vật.

:「。」

yòu shuō :「 wǒ men ruò zài nǐ yǎn qián méng ēn , qiú nǐ bǎ zhè dì gěi wǒ men wèi yè , bú yào lǐng wǒ men guò yuē dàn hé 。」

Lại tiếp rằng: Nếu chúng tôi được ơn trước mặt ông, chớ chi ban xứ nầy cho kẻ tôi tớ ông làm sản nghiệp, xin đừng biểu chúng tôi đi ngang qua sông Giô-đanh.

西便:「

mó xī duì jiā dé zǐ sūn hé lǚ biàn zǐ sūn shuō :「 nán dào nǐ men de dì xiong qù dǎ zhàng , nǐ men jìng zuò zài zhè lǐ ma ?

Nhưng Môi-se đáp cùng con cháu Gát và con cháu Ru-bên rằng: Anh em các ngươi há sẽ đi trận, còn các ngươi ở lại đây sao?

使

nǐ men wèi hé shǐ yǐ sè liè rén huī xīn sàng dǎn 、 bú guò qù jìn rù yē hé huá suǒ cì gěi tā men de nà dì ne ?

Sao các ngươi xui dân Y-sơ-ra-ên trở lòng, không khứng đi qua xứ mà Đức Giê-hô-va đã cho?

·

wǒ xiān qián cóng jiā dī sī · bā ní yà dǎ fā nǐ men xiān zǔ qù kuī tàn nà dì , tā men yě shì zhè yàng xíng 。

Aáy, tổ phụ các ngươi cũng làm như vậy khi ở từ Ca-đe-Ba-nê-a, ta sai họ đi do thám xứ.

使

tā men shàng yǐ shí gè gǔ , qù kuī tàn nà dì huí lái de shí hòu , shǐ yǐ sè liè rén huī xīn sàng dǎn , bú jìn rù yē hé huá suǒ cì gěi tā men de dì 。

Vì tổ phụ các ngươi lên đến đèo Eách-côn, thấy xứ, rồi xui dân Y-sơ-ra-ên trở lòng, không khứng vào xứ mà Đức Giê-hô-va đã ban cho.

dāng rì , yē hé huá de nù qì fā zuò , jiù qǐ shì shuō :

Trong ngày đó, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va phừng lên và Ngài thề rằng:

『 fán cóng āi jí shàng lái 、 èr shí suì yǐ wài de rén duàn bù dé kàn jiàn wǒ duì yà bó lā hǎn 、 yǐ sā 、 yǎ gè qǐ shì yīng xǔ zhī dì , yīn wèi tā men méi yǒu zhuān xīn gēn cóng wǒ 。

Những người đi lên khỏi xứ Ê-díp-tô, từ hai mươi tuổi sắp lên, sẽ chẳng hề thấy xứ mà ta đã thề ban cho Aùp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp, vì các người đó không theo ta cách trung thành,

。』

wéi yǒu jī ní xǐ zú yē fú ní de ér zi jiā lè hé nèn de ér zi yuē shū yà kě yǐ kàn jiàn , yīn wèi tā men zhuān xīn gēn cóng wǒ 。』

trừ ra Ca-lép, con trai của Giê-phu-nê, là người Kê-nít, và Giô-suê, con trai của Nun: hai người đó đã theo Đức Giê-hô-va cách trung thành.

使

yē hé huá de nù qì xiàng yǐ sè liè rén fā zuò , shǐ tā men zài kuàng yě piāo liú sì shí nián , děng dào zài yē hé huá yǎn qián xíng è de nà yí dài rén dōu xiāo miè le 。

Aáy vậy, cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi phừng phừng cùng dân Y-sơ-ra-ên, Ngài làm cho dân đó đi lưu lạc trong đồng vắng bốn mươi năm, cho đến chừng nào cả dòng dõi đã làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va bị tiêu diệt hết.

使

shuí zhī , nǐ men qǐ lái jiē xù xiān zǔ , zēng tiān zuì rén de shù mù , shǐ yē hé huá xiàng yǐ sè liè dà fā liè nù 。

Nầy các ngươi dấy lên thế cho tổ phụ mình, là dòng dõi tội nhân, đặng gia thêm sức thạnh nộ của Đức Giê-hô-va cùng Y-sơ-ra-ên nữa.

退便使。」

nǐ men ruò tuì hòu bù gēn cóng tā , tā hái yào bǎ yǐ sè liè rén piě zài kuàng yě , biàn shì nǐ men shǐ zhè zhòng mín miè wáng 。」

Vì nhược bằng các ngươi đi tẻ Ngài ra, thì Ngài sẽ cứ để dân nầy ở trong đồng vắng, và các ngươi làm cho dân chết sạch hết vậy.

西:「

liǎng zhī pài de rén āi jìn mó xī , shuō :「 wǒ men yào zài zhè lǐ wèi shēng chù lěi quān , wèi fù rén hái zi zào chéng 。

Nhưng các người đó đến gần Môi-se mà rằng: Tại đây, chúng tôi sẽ dựng chuồng cho súc vật và thành cho con trẻ chúng tôi;

wǒ men zì jǐ yào dài bīng qì xíng zài yǐ sè liè rén de qián tou , hǎo bǎ tā men lǐng dào tā men de dì fāng ; dàn wǒ men de fù rén hái zi , yīn zhè dì jū mín de yuán gù , yào zhù zài jiān gù de chéng nèi 。

rồi chúng tôi cầm binh khí lập tức đặng đi trước dân Y-sơ-ra-ên cho đến chừng nào đưa dân ấy vào cõi đã phân định cho họ. Còn con trẻ chúng tôi phải ở trong thành kiên cố, vì cớ dân bổn xứ.

wǒ men bù huí jiā , zhí děng dào yǐ sè liè rén gè chéng shòu zì jǐ de chǎn yè 。

Chúng tôi không trở về nhà chúng tôi trước khi mọi người trong dân Y-sơ-ra-ên chưa lãnh được sản nghiệp mình.

。」

wǒ men bù hé tā men zài yuē dàn hé nà biān yí dài zhī dì tóng shòu chǎn yè , yīn wèi wǒ men de chǎn yè shì zuò luò zài yuē dàn hé dōng biān zhè lǐ 。」

Chúng tôi sẽ chẳng được chi với dân Y-sơ-ra-ên về bên kia sông Giô-đanh hay là xa hơn, vì chúng tôi được sản nghiệp mình ở bên nầy sông Giô-đanh, về phía đông.

西:「

mó xī duì tā men shuō :「 nǐ men ruò zhè yàng xíng , zài yē hé huá miàn qián dài zhe bīng qì chū qù dǎ zhàng ,

Môi-se đáp cùng các người rằng: Nếu các ngươi làm điều đó, nếu cầm binh khí đặng đi chiến trận trước mặt Đức Giê-hô-va,

suǒ yǒu dài bīng qì de rén dōu yào zài yē hé huá miàn qián guò yuē dàn hé , děng tā gǎn chū tā de chóu dí ,

nếu mọi người cầm binh khí đi ngang qua sống Giô-đanh trước mặt Đức Giê-hô-va, cho đến khi nào đuổi quân-nghịch chạy khỏi trước mặt Ngài,

nà dì bèi yē hé huá zhì fú le , rán hòu nǐ men kě yǐ huí lái , xiàng yē hé huá hé yǐ sè liè cái wèi wú zuì , zhè dì yě bì zài yē hé huá miàn qián guī nǐ men wèi yè 。

và nếu chỉ trở về sau khi xứ đã phục trước mặt Đức Giê-hô-va, thì đối cùng Đức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên, các ngươi sẽ không bị trách móc chi, và đất nầy sẽ làm sản nghiệp cho các ngươi trước mặt Đức Giê-hô-va.

tǎng ruò nǐ men bú zhè yàng xíng , jiù dé zuì yē hé huá , yào zhī dào nǐ men de zuì bì zhuī shàng nǐ men 。

Còn nếu không làm như vậy, nầy các ngươi sẽ phạm tội cùng Đức Giê-hô-va, và phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi.

。」

rú jīn nǐ men kǒu zhōng suǒ chū de , zhī guǎn qù xíng , wèi nǐ men de fù rén hái zi zào chéng , wèi nǐ men de yáng qún lěi quān 。」

Vậy, hãy cất thành cho con trẻ mình, cùng dựng chuồng cho bầy súc vật và làm điều các ngươi đã nói.

便西:「

jiā dé zǐ sūn hé lǚ biàn zǐ sūn duì mó xī shuō :「 pú rén yào zhào wǒ zhǔ suǒ fēn fù de qù xíng 。

Con cháu Gát và con cháu Ru-bên bèn nói cùng Môi-se rằng: Các tôi tớ ông sẽ làm điều mà chúa tôi phán dặn.

wǒ men de qī zǐ 、 hái zi 、 yáng qún , hé suǒ yǒu de shēng chù dōu yào liú zài jī liè de gè chéng 。

Con trẻ, vợ, bầy chiên, và hết thảy súc vật chúng tôi sẽ ở đây trong những thành xứ Ga-la-át;

。」

dàn nǐ de pú rén , fán dài bīng qì de , dōu yào zhào wǒ zhǔ suǒ shuō de huà , zài yē hé huá miàn qián guò qù dǎ zhàng 。」

còn hết thảy tôi tớ ông sẽ cầm binh khí, đi ngang qua, sẵn ngừa mà chiến trận trước mặt Đức Giê-hô-va, như chúa tôi đã phán dặn.

西

yú shì , mó xī wèi tā men zhǔ fù jì sī yǐ lì yà sā hé nèn de ér zi yuē shū yà , bìng yǐ sè liè zhòng zhī pài de zú zhǎng , shuō :

Vậy, Môi-se về phần các người đó truyền lịnh cho Ê-lê-a-sa, thầy tế lễ, cho Giô-suê, con trai Nun, và cho các quan trưởng của những chi phái dân Y-sơ-ra-ên,

便

「 jiā dé zǐ sūn hé lǚ biàn zǐ sūn , fán dài bīng qì zài yē hé huá miàn qián qù dǎ zhàng de , ruò yǔ nǐ men yì tóng guò yuē dàn hé , nà dì bèi nǐ men zhì fú le , nǐ men jiù yào bǎ jī liè dì gěi tā men wèi yè 。

mà rằng: Nếu con cháu Gát và con cháu Ru-bên cầm binh khí đi ngang qua sông Giô-đanh với các ngươi đặng chiến trận trước mặt Đức Giê-hô-va, và nếu xứ phục các ngươi, thì các ngươi phải ban cho họ xứ Ga-la-át làm sản nghiệp.

。」

tǎng ruò tā men bú dài bīng qì hé nǐ men yì tóng guò qù , jiù yào zài jiā nán dì nǐ men zhōng jiān dé chǎn yè 。」

Nhưng nếu họ không cầm binh khí mà đi ngang qua với các ngươi, thì họ sẽ có sản nghiệp giữa các ngươi trong xứ Ca-na-an.

便:「

jiā dé zǐ sūn hé lǚ biàn zǐ sūn huí dá shuō :「 yē hé huá zěn yàng fēn fù pú rén , pú rén jiù zěn yàng xíng 。

Con cháu Gát và con cháu Ru-bên thưa rằng: Chúng tôi sẽ làm điều chi mà Đức Giê-hô-va đã phán cùng kẻ tôi tớ ông.

。」

wǒ men yào dài bīng qì , zài yē hé huá miàn qián guò qù , jìn rù jiā nán dì , zhǐ shì yuē dàn hé zhè biān 、 wǒ men suǒ dé wèi yè zhī dì réng guī wǒ men 。」

Chúng tôi sẽ cầm binh khí đi qua trong xứ Ca-na-an trước mặt Đức Giê-hô-va; nhưng chúng tôi sẽ lãnh sản nghiệp mình về phía bên nầy sông Giô-đanh.

西西便西

mó xī jiāng yà mó lì wáng xī hóng de guó hé bā shān wáng è de guó , lián nà dì hé zhōu wéi de chéng yì , dōu gěi le jiā dé zǐ sūn hé lǚ biàn zǐ sūn , bìng yuē sè de ér zi mǎ ná xī bàn gè zhī pài 。

Aáy vậy, Môi-se ban cho con cháu Gát, con cháu Ru-bên, và phân nữa chi phái Ma-na-se, là con trai của Giô-sép, nước của Si-hôn, vua dân A-mô-rít, và nước của Oùc, vua xứ Ba-san, tức là ban xứ với những thành nó và các thành địa-hạt ở chung quanh.

jiā dé zǐ sūn jiàn zào dǐ běn 、 yà tā lù 、 yà luó ěr 、

Con cháu Gát bèn xây cất Đi-bôn, A-ta-rốt, A-rô-e,

·

yà tā lù · shuò fǎn 、 yǎ xiè 、 yuē bǐ hā 、

Aït-rốt-Sô-phan, Gia-ê-xe, Giô-bê-ha,

··

bó · níng lā 、 bó · hā lán , dōu shì jiān gù chéng 。 tā men yòu lěi yáng juàn 。

Bết-Nim-ra, và Bết-Ha-ran, là những thành kiên cố. Cũng dựng chuồng cho bầy súc vật nữa.

便

lǚ biàn zǐ sūn jiàn zào xī shí běn 、 yǐ lì yà lì 、 jī liè tíng 、

Con cháu Ru-bên xây cất Hết-bôn, Ê-lê-a-lê, Ki-ri-a-ta-im,

·西·),

ní bō 、 bā lì · miǎn 、 xī bǐ mǎ ( ní bō 、 bā lì · miǎn , míng zì shì gǎi le de ), yòu gěi tā men suǒ jiàn zào de chéng lìng qǐ bié míng 。

Nê-bô, Ba-anh-Mê-ôn, tên các thành nầy bị đổi, và Síp-ma; rồi đặt tên cho các thành nào mình xây cất.

西

mǎ ná xī de ér zi mǎ jí , tā de zǐ sūn wǎng jī liè qù , zhàn le nà dì , gǎn chū nà lǐ de yà mó lì rén 。

Con cháu Ma-ki, là con trai Ma-na-se, đi vào chiếm xứ Ga-la-át và đuổi người A-mô-rít ở trong đó ra.

西西

mó xī jiāng jī liè cì gěi mǎ ná xī de ér zi mǎ jí , tā zǐ sūn jiù zhù zài nà lǐ 。

Vậy, Môi-se ban xứ Ga-la-át cho Ma-ki, là con trai Ma-na-se, và người ở tại đó.

西·

mǎ ná xī de zǐ sūn yá ěr qù zhàn le jī liè de cūn zhuāng , jiù chēng zhè xiē cūn zhuāng wèi hā wō tè · yá ěr 。

Giai-rơ, là con trai Ma-na-se, đi chiếm các thôn dân A-mô-rít, đặt tên là thôn Giai-rơ.

nuó bā qù zhàn le jī nà hé jī nà de xiāng cūn , jiù àn zì jǐ de míng chēng jī nà wèi nuó bā 。

Nô-bách đi lấy thành Kê-nát với các thành địa hạt, đặt tên là Nô-bách theo chính danh mình.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.