中文圣经

DÂN SỐ 8

đã biết 0/177

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đức Giê-hô-va cũng phán cùng Môi-se rằng:

。」

「 nǐ gào sù yà lún shuō : diǎn dēng de shí hòu , qī zhǎn dēng dōu yào xiàng dēng tái qián miàn fā guāng 。」

Hãy nói cùng A-rôn: Khi nào người đặt các đèn, thì bảy ngọn đèn phải chiếu trên phía trước chân đèn.

便使西

yà lún biàn zhè yàng xíng 。 tā diǎn dēng tái shàng de dēng , shǐ dēng xiàng qián fā guāng , shì zhào yē hé huá suǒ fēn fù mó xī de 。

A-rôn bèn làm như vậy; đặt bảy ngọn đèn trên phía trước chân đèn, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se.

西

zhè dēng tái de zuò fǎ shì yòng jīn zǐ chuí chū lái de , lián zuò dài huā dōu shì chuí chū lái de 。 mó xī zhì zào dēng tái , shì zhào yē hé huá suǒ zhǐ shì de yàng shì 。

Vả, chân đèn đã làm theo cách nầy; làm bằng vàng đánh giát, cho đến cái chân và những cái hoa đều đánh giát. Aáy vậy, người ta làm chân đèn theo như kiểu mà Đức Giê-hô-va đã chỉ cho Môi-se xem.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

「 nǐ cóng yǐ sè liè rén zhōng xuǎn chū lì wèi rén lái , jié jìng tā men 。

Hãy chọn lấy người Lê-vi ở trong vòng dân Y-sơ-ra-ên và dọn cho họ được sạch.

jié jìng tā men dāng zhè yàng xíng : yòng chú zuì shuǐ tán zài tā men shēn shàng , yòu jiào tā men yòng tì tóu dāo guā quán shēn , xǐ yī fu , jié jìng zì jǐ 。

Nầy là điều ngươi phải làm cho họ được sạch: Ngươi phải rảy nước rửa tội trên mình họ; họ phải cạo hết thảy cùng mình, giặt quần áo, và dọn cho mình được sạch.

rán hòu jiào tā men qǔ yì zhī gōng niú dú , bìng tóng xiàn de sù jì , jiù shì tiáo yóu de xì miàn ; nǐ yào lìng qǔ yì zhī gōng niú dú zuò shú zuì jì 。

Đoạn, họ phải bắt một con bò đực với của lễ chay bằng bột lọc nhồi dầu cặp theo; còn ngươi bắt một con bò đực tơ thứ nhì dùng về của lễ chuộc tội;

jiāng lì wèi rén fèng dào huì mù qián , zhāo jù yǐ sè liè quán huì zhòng 。

rồi biểu người Lê-vi đến gần trước hội mạc và nhóm cả hội chúng Y-sơ-ra-ên.

jiāng lì wèi rén fèng dào yē hé huá miàn qián , yǐ sè liè rén yào àn shǒu zài tā men tóu shàng 。

Vậy, ngươi phải biểu người Lê-vi đến gần trước mặt Đức Giê-hô-va, rồi dân Y-sơ-ra-ên sẽ đặt tay trên mình người Lê-vi.

使

yà lún yě jiāng tā men fèng dào yē hé huá miàn qián , wèi yǐ sè liè rén dàng zuò yáo jì , shǐ tā men hǎo bàn yē hé huá de shì 。

A-rôn sẽ dâng người Lê-vi làm của lễ do phần dân Y-sơ-ra-ên mà đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, và họ sẽ được phần làm công việc của Đức Giê-hô-va.

lì wèi rén yào àn shǒu zài nà liǎng zhī niú de tóu shàng ; nǐ yào jiāng yì zhī zuò shú zuì jì , yì zhī zuò fán jì , xiàn gěi yē hé huá , wèi lì wèi rén shú zuì 。

Đoạn, người Lê-vi sẽ đặt tay trên đầu hai con bò đực, và ngươi phải dâng con nầy làm của lễ chuộc tội và con kia làm của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, để làm lễ chuộc tội cho người Lê-vi.

使

nǐ yě yào shǐ lì wèi rén zhàn zài yà lún hé tā ér zi miàn qián , jiāng tā men dàng zuò yáo jì fèng gěi yē hé huá 。

Kế đó, ngươi phải biểu người Lê-vi đứng trước mặt A-rôn và các con trai người, rồi dâng họ như một của lễ đưa qua đưa lại cho Đức Giê-hô-va.

便

「 zhè yàng , nǐ cóng yǐ sè liè rén zhōng jiàng lì wèi rén fēn bié chū lái , lì wèi rén biàn yào guī wǒ 。

Như vậy ngươi sẽ biệt riêng ra người Lê-vi với dân Y-sơ-ra-ên, và người Lê-vi sẽ thuộc về ta.

cǐ hòu lì wèi rén yào jìn qù bàn huì mù de shì , nǐ yào jié jìng tā men , jiāng tā men dàng zuò yáo jì fèng shàng ;

Sau việc ấy, người Lê-vi sẽ đến đặng làm công việc của hội mạc. Aáy, ngươi sẽ làm cho họ được sạch và dâng như của lễ đưa qua đưa lại vậy.

yīn wèi tā men shì cóng yǐ sè liè rén zhōng quán rán gěi wǒ de , wǒ jiǎn xuǎn tā men guī wǒ , shì dài tì yǐ sè liè rén zhōng yí qiè tóu shēng de 。

Bởi vì, giữa dân Y-sơ-ra-ên người Lê-vi ban trọn cho ta; ta đã chọn lấy họ về ta thế cho hết thảy con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.

yǐ sè liè rén zhōng yí qiè tóu shēng de , lián rén dài shēng chù , dōu shì wǒ de 。 wǒ zài āi jí dì jī shā yí qiè tóu shēng de nà tiān , jiāng tā men fēn bié wèi shèng guī wǒ 。

Vì chưng hết thảy con đầu lòng trong dân Y-sơ-ra-ên đều thuộc về ta, bất luận người hay vật; ta đã biệt chúng nó riêng ra cho ta trong ngày ta hành hại mọi con đầu lòng tại xứ Ê-díp-tô,

wǒ jiǎn xuǎn lì wèi rén dài tì yǐ sè liè rén zhōng yí qiè tóu shēng de 。

và ta đã chọn lấy người Lê-vi thế cho mọi con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên.

。」

wǒ cóng yǐ sè liè rén zhōng jiàng lì wèi rén dàng zuò shǎng cì gěi yà lún hé tā de ér zi , zài huì mù zhōng bàn yǐ sè liè rén de shì , yòu wèi yǐ sè liè rén shú zuì , miǎn de tā men āi jìn shèng suǒ , yǒu zāi yāng lín dào tā men zhōng jiān 。」

Bởi trong dân Y-sơ-ra-ên ta đã chọn người Lê-vi ban trọn cho A-rôn và các con trai người, đặng làm công việc của dân Y-sơ-ra-ên ở trong hội mạc, cùng làm lễ chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên, hầu cho khi họ đến gần nơi thánh, chẳng có tai hại chi trong dân Y-sơ-ra-ên.

西便西

mó xī 、 yà lún , bìng yǐ sè liè quán huì zhòng biàn xiàng lì wèi rén rú cǐ xíng 。 fán yē hé huá zhǐ zhe lì wèi rén suǒ fēn fù mó xī de , yǐ sè liè rén jiù xiàng tā men zhè yàng xíng 。

Vậy, Môi-se, A-rôn, và cả hội dân Y-sơ-ra-ên, đối cùng người Lê-vi làm hết mọi điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se về họ; dân Y-sơ-ra-ên đối cùng người Lê-vi đều làm như vậy.

yú shì lì wèi rén jié jìng zì jǐ , chú le zuì , xǐ le yī fu ; yà lún jiāng tā men dàng zuò yáo jì fèng dào yē hé huá miàn qián , yòu wèi tā men shú zuì , jié jìng tā men 。

Người Lê-vi bèn làm cho mình được sạch khỏi tội, và giặt áo xống mình; rồi A-rôn dâng họ như của lễ đưa qua đưa lại trước mặt Đức Giê-hô-va, và làm lễ chuộc tội cho, để dọn họ được sạch.

西

rán hòu lì wèi rén jìn qù , zài yà lún hé tā ér zi miàn qián , zài huì mù zhōng bàn shì 。 yē hé huá zhǐ zhe lì wèi rén zěn yàng fēn fù mó xī , yǐ sè liè rén jiù zěn yàng xiàng tā men xíng le 。

Sau rồi, người Lê-vi đến đặng làm công việc mình trong hội mạc trước mặt A-rôn và trước mặt các con trai người. Đối cùng người Lê-vi, người ta làm y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn Môi-se về họ.

西

yē hé huá xiǎo yù mó xī shuō :

Đoạn, Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng:

「 lì wèi rén shì zhè yàng : cóng èr shí wǔ suì yǐ wài , tā men yào qián lái rèn zhí , bàn huì mù de shì 。

Nầy là lệ định về người Lê-vi: Từ hai mươi lăm tuổi sắp lên, người Lê-vi phải đến nhập ban trong công việc của hội mạc.

退

dào le wǔ shí suì yào tíng gōng tuì rèn , bú zài bàn shì ,

Nhưng đến năm mươi tuổi, người sẽ ra ban, chẳng làm công việc nữa;

。」

zhī yào zài huì mù lǐ , hé tā men de dì xiong yì tóng cì hou , jǐn shǒu suǒ fēn fù de , bú zài bàn shì le 。 zhì yú suǒ fēn fù lì wèi rén de , nǐ yào zhè yàng xiàng tā men xíng 。」

người phải cứ giúp đỡ anh em mình trong hội mạc, coi sóc việc chi đã giao cho, nhưng không nên làm công việc nữa. Ngươi phải đối cùng người Lê-vi mà làm như vậy về chức phận của họ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.