中文圣经

THI THIÊN 22

đã biết 0/236

wǒ de shén , wǒ de shén ! wèi shén me lí qì wǒ ? wèi shén me yuǎn lí bú jiù wǒ ? bù tīng wǒ ài hēng de yán yǔ ?

Đức Chúa Trời tôi ôi! Đức Chúa Trời tôi ôi! sao Ngài lìa bỏ tôi? Nhân sao Ngài đứng xa, không giúp đỡ tôi, và chẳng nghe lời rên siếc tôi?

wǒ de shén a , wǒ bái rì hū qiú , nǐ bú yīng yǔn , yè jiān hū qiú , bìng bú zhù shēng 。

Đức Chúa Trời tôi ôi! tôi kêu cầu ban ngày, nhưng Chúa chẳng đáp lại; Ban đêm cũng vậy, song tôi nào có được an nghỉ đâu

dàn nǐ shì shèng jié de , shì yòng yǐ sè liè de zàn měi wèi bǎo zuò de 。

Còn Chúa là thánh, Ngài là Đấng ngự giữa sự khen ngợi của Y-sơ-ra-ên.

便

wǒ men de zǔ zōng yǐ kào nǐ ; tā men yǐ kào nǐ , nǐ biàn jiě jiù tā men 。

Tổ phụ chúng tôi nhờ cậy nơi Chúa, Họ nhờ cậy Chúa bèn giải cứu cho.

便

tā men āi qiú nǐ , biàn méng jiě jiù ; tā men yǐ kào nǐ , jiù bù xiū kuì 。

Họ kêu cầu cùng Chúa, và được giải cứu; Họ nhờ cậy nơi Chúa, không bị hổ thẹn.

dàn wǒ shì chóng , bú shì rén , bèi zhòng rén xiū rǔ , bèi bǎi xìng miǎo shì 。

Nhưng tôi là một con trùng, chớ chẳng phải người đâu, Là điều ô nhục của loài người, và vật khinh dể của dân sự.

fán kàn jiàn wǒ de dōu chī xiào wǒ ; tā men piě zuǐ yáo tóu , shuō :

Hễ kẻ nào thấy tôi đều nhạo cười tôi. Trề môi, lắc đầu, mà rằng:

tā bǎ zì jǐ jiāo tuō yē hé huá , yē hé huá kě yǐ jiù tā ba ! yē hé huá jì xǐ yuè tā , kě yǐ dā jiù tā ba !

Người phú thác mình cho Đức Giê-hô-va, Ngài khá giải cứu người; Ngài khá giải cứu người, vì Ngài yêu mến người!

怀使

dàn nǐ shì jiào wǒ chū mǔ fù de ; wǒ zài mǔ huái lǐ , nǐ jiù shǐ wǒ yǒu yǐ kào de xīn 。

Phải, ấy là Chúa rút tôi khỏi lòng mẹ, Khiến tôi tin cậy khi nằm trên vú của mẹ tôi.

wǒ zì chū mǔ tāi jiù bèi jiāo zài nǐ shǒu lǐ ; cóng wǒ mǔ qīn shēng wǒ , nǐ jiù shì wǒ de shén 。

Từ trong tử cung tôi đã được giao cho Chúa; Chúa là Đức Chúa Trời tôi từ khi tôi lọt lòng mẹ.

qiú nǐ bú yào yuǎn lí wǒ ! yīn wèi jí nán lín jìn le , méi yǒu rén bāng zhù wǒ 。

Xin chớ đứng xa tôi, vì sự gian truân hầu gần, Chẳng có ai tiếp cứu cho.

yǒu xǔ duō gōng niú wéi rào wǒ , bā shān dà lì de gōng niú sì miàn kùn zhù wǒ 。

Có nhiều bò đực bao quanh tôi, Những bò đực hung mạnh của Ba-san vây phủ tôi.

tā men xiàng wǒ zhāng kǒu , hǎo xiàng zhuā sī hǒu jiào de shī zi 。

Chúng nó hả miệng ra cùng tôi, Khác nào sư tử hay cắn xé và gầm hét.

wǒ rú shuǐ bèi dǎo chū lái ; wǒ de gǔ tou dōu tuō le jié ; wǒ xīn zài wǒ lǐ miàn rú là róng huà 。

Tôi bị đổ ra như nước, Các xương cốt tôi đều rời rã; Trái tim tôi như sáp, Tan ra trong mình tôi.

wǒ de jīng lì kū gān , rú tóng wǎ piàn ; wǒ de shé tou tiē zài wǒ yá chuáng shàng 。 nǐ jiāng wǒ ān zhì zài sǐ dì de chén tǔ zhōng 。

Sức lực tôi khô như miếng gốm, Và lưỡi tôi dính nơi ổ gà; Chúa đã để tôi nằm trong bụi tro sự chết.

quǎn lèi wéi zhe wǒ , è dǎng huán rào wǒ ; tā men zhā le wǒ de shǒu , wǒ de jiǎo 。

Vì những chó bao quanh tôi, Một lũ hung ác vây phủ tôi; Chúng nó đâm lủng tay và chân tôi;

wǒ de gǔ tou , wǒ dōu néng shù guò ; tā men dèng zhuó yǎn kàn wǒ 。

Tôi đếm được các xương tôi. Chúng nó xem và ngó chân tôi;

tā men fēn wǒ de wài yī , wèi wǒ de lǐ yī niān jiū 。

Chúng nó chia nhau áo xống tôi, Bắt thăm về áo dài tôi.

yē hé huá a , qiú nǐ bú yào yuǎn lí wǒ ! wǒ de jiù zhǔ a , qiú nǐ kuài lái bāng zhù wǒ !

Đức Giê-hô-va ôi! chớ đứng xa tôi; Hỡi Đấng cứu tiếp tôi ôi! hãy mau mau đến giúp đỡ tôi.

qiú nǐ jiù wǒ de líng hún tuō lí dāo jiàn , jiù wǒ de shēng mìng tuō lí quǎn lèi ,

Hãy giải cứu linh hồn tôi khỏi gươm, Và mạng sống tôi khỏi loài chó.

使

jiù wǒ tuō lí shī zi de kǒu ; nǐ yǐ jīng yīng yǔn wǒ , shǐ wǒ tuō lí yě niú de jiǎo 。

Hãy cứu tôi khỏi họng sư tử, Từ các sừng của trâu rừng, Chúa đã nhậm lời tôi.

wǒ yào jiāng nǐ de míng chuán yǔ wǒ de dì xiong , zài huì zhōng wǒ yào zàn měi nǐ 。

Tôi sẽ rao truyền danh Chúa cho anh em tôi, Và ngợi khen Chúa giữa hội chúng.

耀

nǐ men jìng wèi yē hé huá de rén yào zàn měi tā ! yǎ gè de hòu yì dōu yào róng yào tā ! yǐ sè liè de hòu yì dōu yào jù pà tā !

Hỡi các người kính sợ Đức Giê-hô-va, hãy ngợi khen Ngài; ù hết thảy dòng dõi Gia-cốp, khá tôn vinh Ngài. Hỡi hết thảy dòng dõi Y-sơ-ra-ên, hãy kính sợ Ngài;

yīn wèi tā méi yǒu miǎo shì zēng wù shòu kǔ de rén , yě méi yǒu xiàng tā yǎn miàn ; nà shòu kǔ zhī rén hū yù de shí hòu , tā jiù chuí tīng 。

Vì Ngài không khinh bỉ, chẳng gớm ghiếc sự hoạn nạn của kẻ khốn khổ, Cũng không giấu mặt Ngài cùng người; Nhưng khi người kêu cầu cùng Ngài, thì bèn nhậm lời.

wǒ zài dà huì zhōng zàn měi nǐ de huà shì cóng nǐ ér lái de ; wǒ yào zài jìng wèi yē hé huá de rén miàn qián hái wǒ de yuàn 。

Sự ngợi khen của tôi tại giữa hội lớn do Chúa mà ra; Tôi sẽ trả xong sự hứa nguyện tôi trước mặt những kẻ kính sợ Chúa.

qiān bēi de rén bì chī dé bǎo zú ; xún qiú yē hé huá de rén bì zàn měi tā 。 yuàn nǐ men de xīn yǒng yuǎn huó zhe !

Kẻ hiền từ sẽ ăn và được no nê; Những người tìm Đức Giê-hô-va sẽ ngợi khen Ngài; Nguyện lòng các ngươi được sống đời đời.

dì de sì jí dōu yào xiǎng niàn yē hé huá , bìng qiě guī shùn tā ; liè guó de wàn zú dōu yào zài nǐ miàn qián jìng bài 。

Bốn phương thế gian sẽ nhớ và trở lại cùng Đức Giê-hô-va; Các họ hàng muôn dân sẽ thờ lạy trước mặt Ngài.

yīn wèi guó quán shì yē hé huá de ; tā shì guǎn lǐ wàn guó de 。

Vì nước thuộc về Đức Giê-hô-va, Ngài cai trị trên muôn dân.

dì shàng yí qiè fēng féi de rén bì chī hē ér jìng bài ; fán xià dào chén tǔ zhōng — bù néng cún huó zì jǐ xìng mìng de rén — dōu yào zài tā miàn qián xià bài 。

Hết thảy người giàu có thế gian cũng sẽ ăn và thờ lạy; Mọi kẻ trở lại bụi đất, và những kẻ không thế bảo tồn mạng sống mình, Sẽ quì xuống trước mặt Ngài.

tā bì yǒu hòu yì shì fèng tā ; zhǔ suǒ xíng de shì bì chuán yǔ hòu dài 。

Một dòng dõi sẽ hầu việc Ngài; Người ta sẽ kể dòng dõi ấy là dòng dõi của Chúa.

tā men bì lái bǎ tā de gōng yì chuán gěi jiāng yào shēng de mín , yán míng zhè shì shì tā suǒ xíng de 。

Dòng dõi ấy sẽ đến rao truyền sự công bình của Ngài, Thuật cho dân tộc sẽ sanh ra rằng Đức Giê-hô-va đã làm việc ấy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.