中文圣经

RU-TƠ 3

đã biết 0/199

:「使

lù dé de pó po ná é mǐ duì tā shuō :「 nǚ ér a , wǒ bù dāng wèi nǐ zhǎo gè ān shēn zhī chù , shǐ nǐ xiǎng fú ma ?

Na-ô-mi, bà gia Ru-tơ, nói cùng nàng rằng: Hỡi con gái ta, mẹ phải lo cho con một chỗ an thân, làm cho con được phước hạnh.

使

nǐ yǔ bō ā sī de shǐ nǚ cháng zài yí chù , bō ā sī bú shì wǒ men de qīn zú ma ? tā jīn yè zài chǎng shàng bò dà mài ;

Vả, con đã theo các tớ gái của Bô-ô, mà người ấy vốn là bà con của chúng ta. Chính đêm nay, người phải đi sảy lúa mạch nơi sân đạp lúa người.

使

nǐ yào mù yù mǒ gāo , huàn shàng yī fu , xià dào chǎng shàng , què bú yào shǐ nà rén rèn chū nǐ lái 。 nǐ děng tā chī hē wán le ,

Hãy tắm rửa, xức dầu và mặc quần áo, rồi đi xuống sân đạp lúa; nhưng trước khi người chưa ăn uống xong, con chớ làm cho người nhận biết mình.

。」

dào tā shuì de shí hòu , nǐ kàn zhǔn tā shuì de dì fāng , jiù jìn qù xiān kāi tā jiǎo shàng de bèi , tǎng wò zài nà lǐ , tā bì gào sù nǐ suǒ dàng zuò de shì 。」

Khi người nằm ngủ, hãy để ý xem người nằm nơi nào; rồi đi dở mềm dưới chân người và nằm xuống; chính người sẽ nói điều gì con phải làm.

:「。」

lù dé shuō :「 fán nǐ suǒ fēn fù de , wǒ bì zūn xíng 。」

Nàng thưa rằng: Mọi điều mẹ đã nói với con, con sẽ làm.

lù dé jiù xià dào chǎng shàng , zhào tā pó po suǒ fēn fù tā de ér xíng 。

Nàng bèn đi xuống sân đạp lúa, và làm theo mọi điều mẹ chồng mình đã dặn.

便

bō ā sī chī hē wán le , xīn lǐ huān chàng , jiù qù shuì zài mài duī páng biān 。 lù dé biàn qiāo qiāo dì lái xiān kāi tā jiǎo shàng de bèi , tǎng wò zài nà lǐ 。

Khi Bô-ô đã ăn uống xong, lòng đang mừng rỡ, đi nằm ở bên một đống lúa mạch kia, nàng bèn đi đến nhẹ nhẹ, dở mền dưới chân người, rồi nằm xuống.

dào le yè bàn , nà rén hū rán jīng xǐng , fān guò shēn lái , bú liào yǒu nǚ zǐ tǎng zài tā de jiǎo xià 。

Nửa đêm, Bô-ô sợ hãi, nghiêng mình qua, kìa thấy một người nữ nằm tại dưới chân mình.

:「?」:「。」

tā jiù shuō :「 nǐ shì shuí ?」 huí dá shuō :「 wǒ shì nǐ de bì nǚ lù dé 。 qiú nǐ yòng nǐ de yī jīn zhē gài wǒ , yīn wèi nǐ shì wǒ yí gè zhì jìn de qīn shǔ 。」

Bô-ô hỏi: ngươi là ai? Nàng đáp: Tôi là Ru-tơ, kẻ tớ gái ông; xin đắp mền ông trên kẻ tớ gái ông, vì ông có quyền chuộc sản nghiệp tôi.

:「

bō ā sī shuō :「 nǚ ér a , yuàn nǐ méng yē hé huá cì fú 。 nǐ mò hòu de ēn bǐ xiān qián gèng dà ; yīn wèi shào nián rén wú lùn pín fù , nǐ dōu méi yǒu gēn cóng 。

Người nói: Hỡi con gái ta, nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho con! Việc nhân từ con làm lần sau này, lại còn trọng hơn lần trước; vì con chẳng có theo những gã trai trẻ, vô luận nghèo hay giàu.

nǚ ér a , xiàn zài bú yào jù pà , fán nǐ suǒ shuō de , wǒ bì zhào zhe xíng ; wǒ běn chéng de rén dōu zhī dào nǐ shì gè xián dé de nǚ zǐ 。

Vậy bây giờ, hỡi con gái ta, chớ sợ chi: ta sẽ làm cho nàng mọi điều nàng sẽ nói; vì cả dân sự trong thành ta đều biết rằng nàng là một người đàn bà hiền đức.

wǒ shí zài shì nǐ yí gè zhì jìn de qīn shǔ , zhǐ shì hái yǒu yí gè rén bǐ wǒ gèng jìn 。

Bây giờ, điều đó quả thật, ta có quyền chuộc sản nghiệp nàng lại; song có một người khác lại là bà con gần hơn ta.

宿。」

nǐ jīn yè zài zhè lǐ zhù sù , míng zǎo tā ruò kěn wèi nǐ jìn qīn shǔ de běn fèn , jiù yóu tā ba ! tǎng ruò bù kěn , wǒ zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì , wǒ bì wèi nǐ jìn le běn fèn , nǐ zhǐ guǎn tǎng dào tiān liàng 。」

Hãy ở đêm lại đây. Đến sáng, nếu người kia muốn chuộc sản nghiệp nàng lại, thì người buộc phải làm; còn nếu như người không đẹp lòng chuộc sản nghiệp nàng lại, thì ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống thề rằng chắc sẽ chuộc sản nghiệp nàng lại! Hãy ở lại ngủ đây cho đến sáng.

便:「使」;

lù dé biàn zài tā jiǎo xià tǎng dào tiān kuài liàng , rén bǐ cǐ bù néng biàn rèn de shí hòu jiù qǐ lái le 。 bō ā sī shuō :「 bù kě shǐ rén zhī dào yǒu nǚ zǐ dào chǎng shàng lái 」;

Vậy, nàng ở ngủ nơi chân người cho đến sáng, rồi dậy sớm, trước khi hai người có thế nhìn biết nhau; vì Bô-ô nói rằng: Chớ cho người ta biết rằng có một người nữ vào sân đạp lúa.

:「。」便

yòu duì lù dé shuō :「 dǎ kāi nǐ suǒ pī de wài yī 。」 tā dǎ kāi le , bō ā sī jiù cuō le liù bò ji dà mài , bāng tā káng zài jiān shàng , tā biàn jìn chéng qù le 。

Người lại nói: Hãy giơ ra áo tơi của nàng mặc, rồi nắm nó cho chắc. Nàng bèn giơ ra; người trút cho sáu đấu lúa mạch, biểu nàng đem đi; đoạn người trở vào thành.

:「?」

lù dé huí dào pó po nà lǐ , pó po shuō :「 nǚ ér a , zěn me yàng le ?」 lù dé jiù jiāng nà rén xiàng tā suǒ xíng de shù shuō le yí biàn ,

Ru-tơ trở về nhà bà gia mình; người hỏi: Có phải con gái ta chăng? Ru-tơ thuật cho người mọi điều Bô-ô đã làm cho mình,

:「:『。』」

yòu shuō :「 nà rén gěi le wǒ liù bò ji dà mài , duì wǒ shuō :『 nǐ bù kě kōng shǒu huí qù jiàn nǐ de pó po 。』」

rồi tiếp rằng: Người có cho tôi sáu đấu lúa mạch này, mà rằng: Nàng chớ trở về cùng bà gia hai tay không.

:「。」

pó po shuō :「 nǚ ér a , nǐ zhǐ guǎn ān zuò děng hòu , kàn zhè shì zěn yàng chéng jiù , yīn wèi nà rén jīn rì bú bàn chéng zhè shì bì bù xiū xi 。」

Na-ô-mi nói rằng: Hỡi con gái ta, hãy ở đây, để đợi xem cho biết công việc xoay thế nào vì nếu ngày nay việc này chưa rồi, thì người ấy chẳng nghỉ đâu.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.