中文圣经

I LỊCH SỬ 16

đã biết 0/311

zhòng rén jiāng shén de yuē guì qǐng jìn qù , ān fàng zài dà wèi suǒ dā de zhàng mù lǐ , jiù zài shén miàn qián xiàn fán jì hé píng ān jì 。

Chúng thỉnh hòm của Đức Chúa Trời về, để trong trại của Đa-vít đã dựng lên cho nó; đoạn dâng những của lễ thiêu và của lễ bình an tại trước mặt Đức Chúa Trời.

dà wèi xiàn wán le fán jì hé píng ān jì , jiù fèng yē hé huá de míng gěi mín zhù fú ,

Khi Đa-vít đã dâng của lễ thiêu và của lễ bình an xong, bèn nhân danh Đức Giê-hô-va chúc phước cho dân sự;

bìng qiě fēn gěi yǐ sè liè rén , wú lùn nán nǚ , měi rén yí gè bǐng , yí kuài ròu , yí gè pú táo bǐng 。

đoạn phân phát cho hết thảy người Y-sơ-ra-ên, cả nam và nữ, mỗi người một ổ bánh, một miếng thịt, và một cái bánh nho khô.

dà wèi pài jǐ gè lì wèi rén zài yē hé huá de yuē guì qián shì fèng , sòng yáng , chēng xiè , zàn měi yē hé huá — yǐ sè liè de shén :

Người lập mấy người Lê-vi hầu việc trước hòm của Đức Giê-hô-va, ngợi khen, cảm tạ, và ca tụng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên:

·

wéi shǒu de shì yà sà , qí cì shì sā jiā lì yǎ 、 yǎ xuē 、 shì mǐ lā mò 、 yē xiē 、 mǎ tā tí yǎ 、 yǐ lì yā 、 bǐ ná yǎ 、 é bié · yǐ dōng 、 yē lì , gǔ sè tán qín ; wéi yǒu yà sà qiāo bó , dà fā xiǎng shēng ;

A-sáp làm chánh, Xa-cha-ri làm phó, rồi thì Giê-i-ên, Sê-mi-ra-mốt, Giê-hi-ên, Ma-ti-thia, Ê-li-áp, Bê-na-gia, Ô-bết-Ê-đôm, và Giê-i-ên, đều cầm nhạc khí, đàn cầm và đàn sắt; còn A-sáp nổi chập chỏa vang lên.

jì sī bǐ ná yǎ hé yǎ hā xī cháng zài shén de yuē guì qián chuī hào 。

Bê-na-gia và thầy tế lễ Gia-ha-xi-ên đều hằng thổi kèn ở trước hòm giao ước của Đức Chúa Trời.

nà rì , dà wèi chū cì jiè yà sà hé tā de dì xiong yǐ shī gē chēng sòng yē hé huá , shuō :

Trong ngày đó, Đa-vít trao nơi tay A-sáp và anh em người bài hát nầy, đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va:

nǐ men yào chēng xiè yē hé huá , qiú gào tā de míng , zài wàn mín zhōng chuán yáng tā de zuò wéi !

Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va cầu khẩn danh Ngài, Và đồn công việc Ngài ra giữa các dân tộc!

yào xiàng tā chàng shī 、 gē sòng , tán lùn tā yí qiè qí miào de zuò wéi 。

Hãy ca hát cho Ngài, hãy ngợi khen Ngài! Suy gẫm về các công việc mầu của Ngài.

耀

yào yǐ tā de shèng míng kuā yào ; xún qiú yē hé huá de rén , xīn zhōng yīng dāng huān xǐ 。

Hãy lấy danh thánh Ngài làm vinh; Phàm ai tìm cầu Đức Giê-hô-va, khá vui lòng!

yào xún qiú yē hé huá yǔ tā de néng lì , shí cháng xún qiú tā de miàn 。

Phải tìm cầu Đức Giê-hô-va và sức mạnh Ngài, Phải tìm mặt Ngài luôn luôn.

tā pú rén yǐ sè liè de hòu yì , tā suǒ jiǎn xuǎn yǎ gè de zǐ sūn nǎ , nǐ men yào jì niàn tā qí miào de zuò wéi hé tā de qí shì , bìng tā kǒu zhōng de pàn yǔ 。

Hỡi dòng dõi của Y-sơ-ra-ên, là đầy tớ Ngài, Hỡi con cháu của Gia-cốp, là kẻ Ngài chọn,

Hãy nhớ lại công việc mầu của Ngài đã làm, Những phép lạ Ngài, và lời xét đoán của miệng Ngài.

tā shì yē hé huá — wǒ men de shén , quán dì dōu yǒu tā de pàn duàn 。

Ngài vốn là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng ta; Sự xét đoán Ngài làm ra khắp thế gian.

nǐ men yào jì niàn tā de yuē , zhí dào yǒng yuǎn ; tā suǒ fēn fù de huà , zhí dào qiān dài ,

Khá nhớ đời đời sự giao ước Ngài, Và mạng lịnh Ngài đã định cho ngàn đời,

jiù shì yǔ yà bó lā hǎn suǒ lì de yuē , xiàng yǐ sā suǒ qǐ de shì 。

Tức giao ước, Ngài đã lập cùng Aùp-ra-ham, Và lời thề Ngài đã thề cùng Y-sác;

tā yòu jiāng zhè yuē xiàng yǎ gè dìng wèi lǜ lì , xiàng yǐ sè liè dìng wèi yǒng yuǎn de yuē ,

Lại quyết định cho Gia-cốp làm điều lệ, Cho Y-sơ-ra-ên làm giao ước đời đời,

shuō : wǒ bì jiāng jiā nán dì cì gěi nǐ , zuò nǐ chǎn yè de fēn 。

Rằng: Ta sẽ ban cho ngươi xứ Ca-na-an, Là phần cơ nghiệp ngươi.

dāng shí nǐ men rén dīng yǒu xiàn , shù mù xī shǎo , bìng qiě zài nà dì wèi jì jū de ;

Khi ấy các ngươi chỉ một số ít người, Hèn mọn, và làm khách trong xứ;

tā men cóng zhè bāng yóu dào nà bāng , cóng zhè guó xíng dào nà guó 。

Trảy từ dân nầy qua dân kia, Từ nước nầy đến nước khác.

yē hé huá bù róng shén me rén qī fù tā men , wèi tā men de yuán gù zé bèi jūn wáng ,

Ngài không cho ai hà hiếp chúng, Ngài trách phạt các vua vì cớ họ,

shuō : bù kě nán wéi wǒ shòu gāo de rén , yě bù kě wù dài wǒ de xiān zhī !

Mà rằng: Chớ đụng đến những kẻ chịu xức dầu ta, Đừng làm hại cho các tiên tri ta.

quán dì dōu yào xiàng yē hé huá gē chàng ! tiān tiān chuán yáng tā de jiù ēn ,

Hỡi người khắp thế gian, khá hát ngợi khen Đức Giê-hô-va; Ngày ngày hãy tỏ ra sự chửng cứu của Ngài!

耀

zài liè bāng zhōng shù shuō tā de róng yào , zài wàn mín zhōng shù shuō tā de qí shì 。

Trong các nước hãy thuật sự vinh hiển của Ngài; Tại muôn dân khá kể những công việc mầu của Ngài.

yīn yē hé huá wèi dà , dāng shòu jí dà de zàn měi ; tā zài wàn shén zhī shàng , dāng shòu jìng wèi 。

Vì Đức Giê-hô-va là lớn, rất đáng ngợi khen, Đáng kính sợ hơn các thần.

wài bāng de shén dōu shǔ xū wú , wéi dú yē hé huá chuàng zào zhū tiān 。

Vì các thần của những dân tộc vốn là hình tượng; Còn Đức Giê-hô-va dựng nên các từng trời.

yǒu zūn róng hé wēi yán zài tā miàn qián , yǒu néng lì hé xǐ lè zài tā shèng suǒ 。

ỳ trước mặt Ngài có sự vinh hiển, oai nghi; Tại nơi Ngài ngự có quyền năng và sự vui vẻ,

耀

mín zhōng de wàn zú a , nǐ men yào jiāng róng yào néng lì guī gěi yē hé huá , dōu guī gěi yē hé huá !

Hỡi các dòng của muôn dân, Khá tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển và quyền năng;

耀

yào jiāng yē hé huá de míng suǒ dāng dé de róng yào guī gěi tā , ná gòng wù lái fèng dào tā miàn qián ; dāng yǐ shèng jié de zhuāng shì jìng bài yē hé huá 。

Khá tôn Đức Giê-hô-va vinh hiển xứng đáng danh Ngài, Đem lễ vật đến trước mặt Ngài; hãy mặc lấy trang sức thánh khiết mà thờ lạy Đức Giê-hô-va.

quán dì yào zài tā miàn qián zhàn dǒu , shì jiè yě jiān dìng bù dé dòng yáo 。

Hỡi khắp thiên hạ, khá run sợ trước mặt Ngài. Thế giới cũng được vững bền, không sao lay động.

yuàn tiān huān xǐ , yuàn dì kuài lè ; yuàn rén zài liè bāng zhōng shuō : yē hé huá zuò wáng le !

Các từng trời hãy vui mừng, trái đất khá hỉ lạc; Còn trong các nước người ta đáng nói: Đức Giê-hô-va quản trị!

yuàn hǎi hé qí zhōng suǒ chōng mǎn de péng pài ; yuàn tián hé qí zhōng suǒ yǒu de dōu huān lè 。

Biển và mọi vật ở trong phải dội tiếng lớn lên; Đồng nội và vạn vật trong nó đều khá vui vẻ!

nà shí , lín zhōng de shù mù dōu yào zài yē hé huá miàn qián huān hū , yīn wèi tā lái yào shěn pàn quán dì 。

Bấy giờ các cây cối trong rừng sẽ hát mừng rỡ trước mặt Đức Giê-hô-va; Vì Ngài đến đặng xét đoán thế gian.

yīng dāng chēng xiè yē hé huá ; yīn tā běn wèi shàn , tā de cí ài yǒng yuǎn cháng cún !

Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là nhân từ; Sự thương xót Ngài còn đến đời đời.

使

yào shuō : zhěng jiù wǒ men de shén a , qiú nǐ jiù wǒ men , jù jí wǒ men , shǐ wǒ men tuō lí wài bāng , wǒ men hǎo chēng zàn nǐ de shèng míng , yǐ zàn měi nǐ wèi kuā shèng 。

Hãy nói: Hỡi Đức Chúa Trời, Đấng chửng cứu chúng tôi! xin hãy cứu rỗi chúng tôi, Hiệp chúng tôi lại, và giải thoát khỏi các nước, Để chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, Và nhờ sự ngợi khen Chúa mà lấy làm được vinh.

:「!」

yē hé huá — yǐ sè liè de shén , cóng gèn gǔ zhí dào yǒng yuǎn , shì yìng dāng chēng sòng de ! zhòng mín dōu shuō :「 ā men !」 bìng qiě zàn měi yē hé huá 。

Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Từ đời đời cho đến đời đời! Cả dân sự đều đáp rằng: A-men! và ngợi khen Đức Giê-hô-va.

dà wèi pài yà sà hé tā de dì xiong zài yuē guì qián cháng cháng shì fèng yē hé huá , yí rì jìn yí rì de zhí fēn ;

Vậy, Đa-vít đặt A-sáp và anh em người tại đó, trước hòm giao ước của Đức Giê-hô-va, hầu cho mỗi ngày phục sự luôn luôn ở trước hòm, làm việc ngày nào theo ngày nấy.

··

yòu pài é bié · yǐ dōng hé tā de dì xiong liù shí bā rén , yǔ yē dù dùn de ér zi é bié · yǐ dōng , bìng hé sà zuò shǒu mén de ;

Cũng đặt Ô-bết-Ê-đôm và anh em người làm kẻ giữ cửa, số được sáu mươi tám người, và Ô-bết-Ê-đôm, con trai của Giê-đu-thun, cùng Hô-sa;

qiě pài jì sī sā dū hé tā dì xiong zhòng jì sī zài jī biàn de qiū tán 、 yē hé huá de zhàng mù qián fán jì tán shàng , měi rì zǎo wǎn , zhào zhe yē hé huá lǜ fǎ shū shàng suǒ fēn fù yǐ sè liè rén de , cháng gěi yē hé huá xiàn fán jì 。

lại đặt thầy tế lễ cả Xa-đốc và anh em người, là những thầy tế lễ ở trước đền tạm của Đức Giê-hô-va, tại nơi cao trong Ga-ba-ôn,

đặng sớm mai và chiều hằng dâng những của lễ thiêu cho Đức Giê-hô-va, tại trên bàn thờ của lễ thiêu, tùy theo các điều chép trong luật pháp của Đức Giê-hô-va, mà Ngài đã truyền dạy cho Y-sơ-ra-ên;

yǔ tā men yì tóng bèi pài de yǒu xī màn 、 yē dù dùn , hé qí yú bèi xuǎn míng zì lù zài cè shàng de , chēng xiè yē hé huá , yīn tā de cí ài yǒng yuǎn cháng cún 。

với chúng có đặt Hê-man, Giê-đu-thun, và những người đã được chọn khác, gọi từng danh, đặng ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài còn đến đời đời;

xī màn 、 yē dù dùn tóng zhe tā men chuī hào 、 qiāo bó , dà fā xiǎng shēng , bìng yòng bié de yuè qì suí zhe gē sòng shén 。 yē dù dùn de zǐ sūn zuò shǒu mén de 。

còn Hê-man và Giê-đu-thun cầm những kèn và chập chỏa để làm nó vang dầy lên, cùng các nhạc khí dùng về bài ca hát của Đức Chúa Trời; các con trai của Giê-đu-thun thì đứng tại nơi cửa.

yú shì zhòng mín gè guī gè jiā ; dà wèi yě huí qù wèi jiā juàn zhù fú 。

Cả dân sự đều đi, mỗi người trở về nhà mình; còn Đa-vít trở về đặng chúc phước cho nhà người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.