中文圣经

I SA-MU-ÊN 1

đã biết 0/279

·

yǐ fǎ lián shān dì de lā mǎ · suǒ fēi yǒu yí gè yǐ fǎ lián rén , míng jiào yǐ lì jiā ná , shì sū fú de xuán sūn , tuō hù de zēng sūn , yǐ lì hù de sūn zi , yē luó hǎn de ér zi 。

Xưa tại Ra-ma-tha-im-xô-phim, có một người quê ở núi Eùp-ra-im, tên là Eân-ca-na, con trai của Giê-rô-ham, cháu của Ê-li-hu, chắt của Tô-hu, chít của Xu-phơ, người Eùp-ra-im;

tā yǒu liǎng gè qī : yì míng hā ná , yì míng pí ní ná 。 pí ní ná yǒu ér nǚ , hā ná méi yǒu ér nǚ 。

Eân-ca-na có hai vợ, người này tên là An-ne, và người kia tên là Phê-ni-na. Phê-ni-na có con, còn An-ne không có.

zhè rén měi nián cóng běn chéng shàng dào shì luó , jìng bài jì sì wàn jūn zhī yē hé huá ; zài nà lǐ yǒu yǐ lì de liǎng gè ér zi hé fú ní 、 fēi ní hā dāng yē hé huá de jì sī 。

Mỗi năm, Eân-ca-na ở thành mình đi lên Si-lô đặng thờ phượng Đức Giê-hô-va vạn quân, và dâng của tế lễ cho Ngài; tại Si-lô có hai con trai của Hê-li, và Hốp-ni và Phi-nê-a, thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va.

yǐ lì jiā ná měi féng xiàn jì de rì zi , jiāng jì ròu fēn gěi tā de qī pí ní ná hé pí ní ná suǒ shēng de ér nǚ ;

Đến ngày Eân-ca-na dâng tế lễ, thì chia của lễ ra từng phần ban cho Phê-ni-na, vợ mình, và cho các con trai và con gái mình.

使

gěi hā ná de què shì shuāng fēn , yīn wèi tā ài hā ná 。 wú nài yē hé huá bù shǐ hā ná shēng yù 。

Nhưng người lại ban cho An-ne một phần bằng hai, vì người thương nàng, dẫu rằng Đức Giê-hô-va khiến cho nàng son sẻ.

使使

pí ní ná jiàn yē hé huá bù shǐ hā ná shēng yù , jiù zuò tā de duì tóu , dà dà jī dòng tā , yào shǐ tā shēng qì 。

Kẻ phân bì nàng khôn xiết trêu ghẹo nàng, để giục nàng lằm bằm vì Đức Giê-hô-va đã khiến nàng son sẻ.

殿

měi nián shàng dào yē hé huá diàn de shí hòu , yǐ lì jiā ná dōu yǐ shuāng fēn gěi hā ná ; pí ní ná réng shì jī dòng tā , yǐ zhì tā kū qì bù chī fàn 。

Từ năm nầy đến năm kia, mỗi khi nàng đi lên đền Đức Giê-hô-va, chồng đãi nàng như vậy, còn Phê-ni-na cứ trêu ghẹo nàng; An-ne khóc và không ăn.

:「?」

tā zhàng fu yǐ lì jiā ná duì tā shuō :「 hā ná a , nǐ wèi hé kū qì , bù chī fàn , xīn lǐ chóu mèn ne ? yǒu wǒ bù bǐ shí gè ér zi hái hǎo ma ?」

Eân-ca-na, chồng nàng, nói rằng: Hỡi An-ne, sao nàng khóc? Cớ sao không ăn và lòng buồn bực dường ấy? Ta há chẳng đáng cho nàng hơn mười đứa con trai ư?

殿

tā men zài shì luó chī hē wán le , hā ná jiù zhàn qǐ lái 。 jì sī yǐ lì zài yē hé huá diàn de mén kuàng páng biān , zuò zài zì jǐ de wèi shàng 。

Sau khi người ta đã ăn uống tại Si-lô rồi, An-ne bèn đứng dậy; lúc ấy Hê-li, thầy tế lễ, đang ngồi trên một cái ghế gần bên cửa của đền Đức Giê-hô-va.

hā ná xīn lǐ chóu kǔ , jiù tòng tòng kū qì , qí dǎo yē hé huá ,

An-ne lấy làm sầu khổ trong lòng, vừa cầu khẩn Đức Giê-hô-va, vừa tuôn tràn giọt lệ.

:「使。」

xǔ yuàn shuō :「 wàn jūn zhī yē hé huá a , nǐ ruò chuí gù bì nǚ de kǔ qíng , juàn niàn bú wàng bì nǚ , cì wǒ yí gè ér zǐ , wǒ bì shǐ tā zhōng shēn guī yǔ yē hé huá , bú yòng tì tóu dāo tì tā de tóu 。」

Nàng hứa nguyện rằng: Oâi, Đức Giê-hô-va của vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của con đòi Ngài, nhớ lại nó chẳng quên, và ban cho con đòi Ngài một đứa trai, thì tôi sẽ phú dâng nó trọn đời cho Đức Giê-hô-va, và dao cạo sẽ chẳng đưa ngang qua đầu nó.

。(

hā ná zài yē hé huá miàn qián bú zhù dì qí dǎo , yǐ lì dìng jīng kàn tā de zuǐ 。(

Vì nàng cầu nguyện lâu dài trước mặt Đức Giê-hô-va, Hê-li chăm xem miệng nàng;

。)

yuán lái hā ná xīn zhōng mò dǎo , zhī dòng zuǐ chún , bù chū shēng yīn , yīn cǐ yǐ lì yǐ wéi tā hē zuì le 。)

vả, An-ne nói trong lòng, chỉ nhóp nhép miệng mà thôi, không có ai nghe tiếng nàng; nên Hê-li tưởng nàng say,

:「。」

yǐ lì duì tā shuō :「 nǐ yào zuì dào jǐ shí ne ? nǐ bú yīng gāi hē jiǔ 。」

bèn hỏi rằng: Chừng nào nàng mới hết say? Hãy đi giã rượu đi.

:「

hā ná huí dá shuō :「 zhǔ a , bú shì zhè yàng 。 wǒ shì xīn lǐ chóu kǔ de fù rén , qīng jiǔ nóng jiǔ dōu méi yǒu hē , dàn zài yē hé huá miàn qián qīng xīn tǔ yì 。

An-ne thưa rằng: Chẳng phải vậy, chúa; tôi vốn một đàn bà có lòng buồn bực, chẳng uống rượu hay là vật gì uống say; nhưng tôi giãi bày lòng tôi ra trước mặt Đức Giê-hô-va.

。」

bú yào jiāng bì nǚ kàn zuò bú zhèng jīng de nǚ zǐ 。 wǒ yīn bèi rén jī dòng , chóu kǔ tài duō , suǒ yǐ qí qiú dào rú jīn 。」

Chớ tưởng con đòi của ông là một người đàn bà gian ác; vì nỗi đau đớn và ưu phiền quá độ của tôi bắt tôi phải nói đến bây giờ.

:「 !」

yǐ lì shuō :「 nǐ kě yǐ píng píng ān ān dì huí qù 。 yuàn yǐ sè liè de shén yǔn zhǔn nǐ xiàng tā suǒ qiú de !」

Hê-li bèn tiếp rằng: Hãy đi bình yên, nguyện Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nhậm lời nàng đã cầu xin cùng Ngài!

:「。」

hā ná shuō :「 yuàn bì nǚ zài nǐ yǎn qián méng ēn 。」 yú shì fù rén zǒu qù chī fàn , miàn shàng zài bú dài chóu róng le 。

Nàng thưa rằng: Nguyện con đòi ông được ơn trước mắt ông! Đoạn, người nữ lui ra, ăn, và nét mặt nàng chẳng còn ra ưu sầu nữa.

cì rì qīng zǎo , tā men qǐ lái , zài yē hé huá miàn qián jìng bài , jiù huí lā mǎ 。 dào le jiā lǐ , yǐ lì jiā ná hé qī hā ná tóng fáng , yē hé huá gù niàn hā ná ,

Qua ngày sau vợ chồng dậy sớm, thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va, đoạn trở về nhà mình tại Ra-ma. Eân-ca-na ăn ở cùng An-ne, là vợ mình; Đức Giê-hô-va bèn nhớ đến nàng.

怀:「。」

hā ná jiù huái yùn 。 rì qī mǎn zú , shēng le yí gè ér zi , gěi tā qǐ míng jiào sā mǔ ěr , shuō :「 zhè shì wǒ cóng yē hé huá nà lǐ qiú lái de 。」

Đang trong năm, An-ne thọ thai và sanh một con trai, đặt tên là Sa-mu-ên, mà nói rằng: Tôi đã cầu xin nó nơi Đức Giê-hô-va.

yǐ lì jiā ná hé tā quán jiā dōu shàng shì luó qù , yào xiàng yē hé huá xiàn nián jì , bìng hái suǒ xǔ de yuàn 。

Eân-ca-na, chồng nàng, và cả nhà người đi lên đặng dâng cho Đức Giê-hô-va của lễ hằng năm và làm xong sự hứa nguyện mình.

:「便使。」

hā ná què méi yǒu shàng qù , duì zhàng fu shuō :「 děng hái zi duàn le nǎi , wǒ biàn dài tā shàng qù cháo jiàn yē hé huá , shǐ tā yǒng yuǎn zhù zài nà lǐ 。」

Nhưng An-ne không đi lên, vì nói cùng chồng nàng rằng: Khi đứa trẻ dứt sữa, tôi sẽ dẫn nó lên, để nó ra mắt Đức Giê-hô-va, và ở đó luôn luôn.

:「。」

tā zhàng fu yǐ lì jiā ná shuō :「 jiù suí nǐ de yì xíng ba ! kě yǐ děng ér zi duàn le nǎi 。 dàn yuàn yē hé huá yìng yàn tā de huà 。」 yú shì fù rén zài jiā lǐ rǔ yǎng ér zi , zhí dào duàn le nǎi ;

Eân-ca-na, chồng nàng, đáp rằng: Hãy làm theo ý nàng cho là phải, ở lại đây cho đến chừng nàng dứt sữa nó. Chỉn nguyện Đức Giê-hô-va làm ứng nghiệm lời hứa của Ngài! Vậy, nàng ở lại nhà, cho con bú đến lúc dứt sữa.

殿。(。)

jì duàn le nǎi , jiù bǎ hái zi dài shàng shì luó , dào le yē hé huá de diàn ; yòu dài le sān zhī gōng niú , yì yī fǎ xì miàn , yì pí dài jiǔ 。( nà shí , hái zi hái xiǎo 。)

Vừa khi dứt sữa, nàng bèn dẫn nó theo mình đến đền của Đức Giê-hô-va tại Si-lô, cùng đem theo ba con bò đực, một Ê-pha bột mì, và một bầu rượu. Đứa trẻ hãy còn nhỏ lắm.

zǎi le yì zhī gōng niú , jiù lǐng hái zi dào yǐ lì miàn qián 。

Họ giết con bò đực, rồi dẫn đứa trẻ đến Hê-li.

:「

fù rén shuō :「 zhǔ a , wǒ gǎn zài nǐ miàn qián qǐ shì , cóng qián zài nǐ zhè lǐ zhàn zhe qí qiú yē hé huá de nà fù rén , jiù shì wǒ 。

Nàng bèn nói cùng người rằng: Xin lỗi, chúa! xưa có người đàn bà đứng tại đây, gần bên ông, đặng cầu khẩn Đức Giê-hô-va, tôi chỉ sanh mạng ông mà thề rằng tôi là người đó.

wǒ qí qiú wèi yào dé zhè hái zi ; yē hé huá yǐ jiāng wǒ suǒ qiú de cì gěi wǒ le 。

Aáy vì đứa trẻ nầy mà tôi cầu nguyện. Đức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi đã cầu xin cùng Ngài.

使。」

suǒ yǐ , wǒ jiāng zhè hái zi guī yǔ yē hé huá , shǐ tā zhōng shēn guī yǔ yē hé huá 。」 yú shì zài nà lǐ jìng bài yē hé huá 。

Vì vậy, tôi cũng dâng nó cho Đức Giê-hô-va; tôi cho Đức Giê-hô-va mượn nó trọn đời nó. Đoạn mẹ con đều thờ lạy tại đó trước mặt Đức Giê-hô-va.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.