中文圣经

I SA-MU-ÊN 11

đã biết 0/180

·:「。」

yà mén rén de wáng ná xiá shàng lái , duì zhe jī liè · yǎ bǐ ān yíng 。 yǎ bǐ zhòng rén duì ná xiá shuō :「 nǐ yǔ wǒ men lì yuē , wǒ men jiù fú shì nǐ 。」

Na-hách, người Am-môn, đi ra đến vây Gia-be trong Ga-la-át. Cả dân Gia-be nói cùng Na-hách rằng: Hãy lập ước cùng chúng tôi, thì chúng tôi sẽ phục sự ông.

:「。」

yà mén rén ná xiá shuō :「 nǐ men ruò yóu wǒ wān chū nǐ men gè rén de yòu yǎn , yǐ cǐ líng rǔ yǐ sè liè zhòng rén , wǒ jiù yǔ nǐ men lì yuē 。」

Na-hách, người Am-môn, đáp rằng: Ta sẽ lập ước cùng các ngươi theo cách nầy: phải khoét hết thảy con mắt hữu của các ngươi, để gieo sự sỉ nhục cho cả Y-sơ-ra-ên.

:「。」

yǎ bǐ de cháng lǎo duì tā shuō :「 qiú nǐ kuān róng wǒ men qī rì , děng wǒ men dǎ fā rén wǎng yǐ sè liè de quán jìng qù ; ruò méi yǒu rén jiù wǒ men , wǒ men jiù chū lái guī shùn nǐ 。」

Các trưởng lão Gia-be nói cùng người rằng: Xin hãy cho chúng tôi bảy ngày đình chiến, chúng tôi sẽ sai sứ giả đến khắp địa phận Y-sơ-ra-ên; nếu không ai giải cứu chúng tôi, thì chúng tôi sẽ đi ra hàng đầu.

使

shǐ zhě dào le sǎo luó zhù de jī bǐ yà , jiāng zhè huà shuō gěi bǎi xìng tīng , bǎi xìng jiù dōu fàng shēng ér kū 。

Vậy, những sứ giả đi đến Ghi-bê-a, thành của Sau-lơ, thuật lại các lời ấy cho dân sự nghe. Cả dân sự bèn cất tiếng lên khóc.

:「?」

sǎo luó zhèng cóng tián jiān gǎn niú huí lái , wèn shuō :「 bǎi xìng wèi shén me kū ne ?」 zhòng rén jiāng yǎ bǐ rén de huà gào sù tā 。

Lúc ấy, Sau-lơ ở ruộng trở về, đi sau bò mình; người hỏi rằng: Cớ chi dân sự khóc như vậy? Người ta thuật lại lời các người Gia-be đã nói.

sǎo luó tīng jiàn zhè huà , jiù bèi shén de líng dà dà gǎn dòng , shèn shì fā nù 。

Vừa nghe tin nầy, Sau-lơ được Thần của Đức Chúa Trời cảm động, và cơn giận người nổi phừng phừng.

使:「。」使

tā jiāng yí duì niú qiè chéng kuài zǐ , tuō fù shǐ zhě chuán sòng yǐ sè liè de quán jìng , shuō :「 fán bù chū lái gēn suí sǎo luó hé sā mǔ ěr de , yě bì zhè yàng qiè kāi tā de niú 。」 yú shì yē hé huá shǐ bǎi xìng jù pà , tā men jiù dōu chū lái , rú tóng yì rén 。

Người bắt một cặp bò, sả ra từng miếng, gởi cho sứ giả đem đến khắp địa phận Y-sơ-ra-ên với lời rao nầy: Phàm ai không ra theo Sau-lơ và Sa-mu-ên, thì các con bò nó tất sẽ bị làm như vậy. Sự kinh khủng của Đức Giê-hô-va giáng trên dân sự, nên hết thảy chúng đều đi ra như chỉ một người.

sǎo luó zài bǐ sè shù diǎn tā men : yǐ sè liè rén yǒu sān shí wàn , yóu dà rén yǒu sān wàn 。

Sau-lơ kiểm điểm chúng tại Bê-xéc; có ba trăm ngàn người Y-sơ-ra-ên và ba mươi ngàn người Giu-đa.

使:「·。」使

zhòng rén duì nà shǐ zhě shuō :「 nǐ men yào huí fù jī liè · yǎ bǐ rén shuō , míng rì tài yáng jìn wǔ de shí hòu , nǐ men bì dé jiě jiù 。」 shǐ zhě huí qù gào sù yǎ bǐ rén , tā men jiù huān xǐ le 。

Chúng nói cùng sứ giả đã đến rằng: Hãy nói cùng người Gia-be trong Ga-la-át: Đến mai, khi mặt trời đã nắng nóng, thì anh em sẽ được giải cứu. Những sứ giả đi về thuật lại các lời nầy cho dân Gia-be. Dân nầy lấy làm vui mừng,

:「。」

yú shì yǎ bǐ rén duì yà mén rén shuō :「 míng rì wǒ men chū lái guī shùn nǐ men , nǐ men kě yǐ suí yì dài wǒ men 。」

và nói cùng người Am-môn rằng: Ngày mai, chúng ta sẽ đi ra cùng các ngươi, các ngươi sẽ đãi chúng ta theo ý mình lấy làm phải.

dì èr rì , sǎo luó jiāng bǎi xìng fēn wèi sān duì , zài chén gèng de shí hòu rù le yà mén rén de yíng , jī shā tā men zhí dào tài yáng jìn wǔ , shèng xià de rén dōu táo sàn , méi yǒu èr rén tóng zài yí chù de 。

Nhưng sáng ngày mai, Sau-lơ chia dân sự ra làm ba đạo, hãm dinh dân Am-môn vừa lúc canh năm, và đánh dân Am-môn cho đến gần đứng bóng. Những người thoát khỏi thì bị tản lạc đến đỗi không có hai người chung nhau.

:「。」

bǎi xìng duì sā mǔ ěr shuō :「 nà shuō 『 sǎo luó qǐ néng guǎn lǐ wǒ men 』 de shì shuí ne ? kě yǐ jiāng tā jiāo chū lái , wǒ men hǎo shā sǐ tā 。」

Dân sự nói cùng Sa-mu-ên rằng: Ai đã nói: Sau-lơ há sẽ trị vì trên chúng ta sao? Hãy phó những người đó cho chúng tôi giết đi.

:「。」

sǎo luó shuō :「 jīn rì yē hé huá zài yǐ sè liè zhōng shī xíng zhěng jiù , suǒ yǐ bù kě shā rén 。」

Nhưng Sau-lơ đáp: Chẳng ai sẽ bị xử tử trong ngày nay; vì ngày nay Đức Giê-hô-va đã làm sự giải cứu trong Y-sơ-ra-ên.

:「。」

sā mǔ ěr duì bǎi xìng shuō :「 wǒ men yào wǎng jí jiǎ qù , zài nà lǐ lì guó 。」

Sa-mu-ên nói cùng dân sự rằng: Chúng ta hãy đi đến Ghinh-ganh đặng lập nước lại.

zhòng bǎi xìng jiù dào le jí jiǎ nà lǐ , zài yē hé huá miàn qián lì sǎo luó wèi wáng , yòu zài yē hé huá miàn qián xiàn píng ān jì 。 sǎo luó hé yǐ sè liè zhòng rén dà dà huān xǐ 。

Cả dân sự đều đi đến Ghinh-ganh; tại đó, trước mặt Đức Giê-hô-va, chúng lập Sau-lơ làm vua. Tại đó chúng dâng của lễ thù ân cho Đức Giê-hô-va. Đoạn, Sau-lơ và hết thảy người Y-sơ-ra-ên vui mừng khôn xiết.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.