中文圣经

II LỊCH SỬ 1

đã biết 0/204

使

dà wèi de ér zi suǒ luó mén guó wèi jiān gù ; yē hé huá — tā de shén yǔ tā tóng zài , shǐ tā shèn wéi zūn dà 。

Sa-lô-môn, con trai Đa-vít, được vững bền trong nước mình; Giê-hô-va Đức Chúa Trời người ở cùng người, và làm cho người rất thạnh vượng.

suǒ luó mén fēn fù yǐ sè liè zhòng rén , jiù shì qiān fū cháng 、 bǎi fū zhǎng 、 shěn pàn guān 、 shǒu lǐng yǔ zú zhǎng dōu lái 。

Sa-lô-môn truyền bảo cả Y-sơ-ra-ên, các quan tướng ngàn người và trăm người, các quan xét và hết thảy các trưởng trong Y-sơ-ra-ên, là các trưởng tộc, phải đến;

西

suǒ luó mén hé huì zhòng dōu wǎng jī biàn de qiū tán qù , yīn nà lǐ yǒu shén de huì mù , jiù shì yē hé huá pú rén mó xī zài kuàng yě suǒ zhì zào de 。

đoạn, Sa-lô-môn và cả hội chúng đều đi lên nơi cao tại Ga-ba-ôn; vì ở đó có hội mạc của Đức Chúa Trời, mà Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, đã làm nơi đồng vắng

·

zhǐ shì shén de yuē guì , dà wèi yǐ jīng cóng jī liè · yē lín bān dào tā suǒ yù bèi de dì fāng , yīn tā céng zài yē lù sā lěng wèi yuē guì zhī dā le zhàng mù ,

(nhưng Đa-vít đã rước hòm Đức Chúa Trời từ Ki-ri-át-Giê-a-rim lên đến nơi người đã dọn sẵn cho hòm; vì người đã dựng cho hòm ấy một cái trại tại Giê-ru-sa-lem).

bìng qiě hù ěr de sūn zi 、 wū lì de ér zi bǐ sā liè suǒ zào de tóng tán yě zài jī biàn yē hé huá de huì mù qián 。 suǒ luó mén hé huì zhòng dōu jiù jìn tán qián 。

Vả, ở trước đền tạm của Đức Giê-hô-va có bàn thờ đồng mà Bết-sa-lê-ên, con trai U-ri, cháu Hu-rơ, đã làm; Sa-lô-môn và hội chúng đều đến nơi đó.

suǒ luó mén shàng dào yē hé huá miàn qián huì mù de tóng tán nà lǐ , xiàn yì qiān xī shēng wèi fán jì 。

Sa-lô-môn bền lên đến bàn thờ bằng đồng đặt ở trước mặt Đức Giê-hô-va tại hội mạc, và dâng một ngàn của lễ thiêu trên bàn thờ ấy.

:「。」

dāng yè , shén xiàng suǒ luó mén xiǎn xiàn , duì tā shuō :「 nǐ yuàn wǒ cì nǐ shén me , nǐ kě yǐ qiú 。」

Chính đêm ấy, Đức Chúa Trời hiện đến cùng Sa-lô-môn, mà phán rằng: Ngươi muốn ta ban cho điều gì, hãy xin đi.

:「使

suǒ luó mén duì shén shuō :「 nǐ céng xiàng wǒ fù dà wèi dà shī cí ài , shǐ wǒ jiē xù tā zuò wáng 。

Sa-lô-môn thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Chúa đã ban ơn rộng cho Đa-vít, cha tôi, và đã đặt tôi làm vua thế cho người.

yē hé huá shén a , xiàn zài qiú nǐ chéng jiù xiàng wǒ fù dà wèi suǒ yīng xǔ de huà ; yīn nǐ lì wǒ zuò zhè mín de wáng , tā men rú tóng dì shàng chén shā nà yàng duō 。

Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời, bây giờ nguyện cho lời Chúa hứa cùng Đa-vít, cha tôi, được ứng nghiệm; vì Chúa đã lập tôi lên làm vua dân sự này đông như bụi đất.

?」

qiú nǐ cì wǒ zhì huì cōng ming , wǒ hǎo zài zhè mín qián chū rù ; bù rán , shuí néng pàn duàn zhè zhòng duō de mín ne ?」

Vậy, xin Chúa ban cho tôi sự khôn ngoan và tri thức, để tôi ra vào trước mặt dân sự này; vì ai dễ xét đoán được dân của Chúa rất đông dường kia?

:「寿

shén duì suǒ luó mén shuō :「 wǒ yǐ lì nǐ zuò wǒ mín de wáng 。 nǐ jì yǒu zhè xīn yì , bìng bù qiú zī cái 、 fēng fù 、 zūn róng , yě bù qiú miè jué nà hèn nǐ zhī rén de xìng mìng , yòu bù qiú dà shòu shù , zhī qiú zhì huì cōng ming hǎo pàn duàn wǒ de mín ;

Đức Chúa Trời phán với Sa-lô-môn rằng: Ta đã lập ngươi làm vua dân sự ta; vả, vì ngươi có lòng như vậy, không có cầu xin sự giàu có, của cải, tôn vinh, hay là mạng sống của những kẻ ghen ghét ngươi, và cũng chẳng có xin sự sống lâu, nhưng lại cầu xin sự khôn ngoan và tri thức cho mình, để xét đoán dân sự ta,

。」

wǒ bì cì nǐ zhì huì cōng ming , yě bì cì nǐ zī cái 、 fēng fù 、 zūn róng 。 zài nǐ yǐ qián de liè wáng dū méi yǒu zhè yàng , zài nǐ yǐ hòu yě bì méi yǒu zhè yàng de 。」

nên ta đã ban sự khôn ngoan và tri thức cho ngươi; ta lại sẽ ban cho ngươi sự giàu có, của cải, tôn vinh, đến đỗi các vua trước ngươi không hề có như vậy, và sau ngươi cũng sẽ chẳng có vua nào được như thế.

yú shì , suǒ luó mén cóng jī biàn qiū tán huì mù qián huí dào yē lù sā lěng , zhì lǐ yǐ sè liè rén 。

Đoạn, Sa-lô-môn từ nơi cao tại Ga-ba-ôn, ở trước hội mạc, trở về Giê-ru-sa-lem; và người cai trị Y-sơ-ra-ên.

suǒ luó mén jù jí zhàn chē mǎ bīng , yǒu zhàn chē yì qiān sì bǎi liàng , mǎ bīng yí wàn èr qiān míng , ān zhì zài tún chē de chéng yì hé yē lù sā lěng , jiù shì wáng nà lǐ 。

Sa-lô-môn nhóm những xe và lính kỵ, được một ngàn bốn trăm cỗ xe, và mười hai ngàn lính kỵ; người để nó trong thành chứa xe, và gần nơi vua tại Giê-ru-sa-lem.

使

wáng zài yē lù sā lěng shǐ jīn yín duō rú shí tou , xiāng bǎi mù duō rú gāo yuán de sāng shù 。

Vua làm cho bạc vàng trong Giê-ru-sa-lem ra thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung nơi đồng bằng.

suǒ luó mén de mǎ shì cóng āi jí dài lái de , shì wáng de shāng rén yì qún yi qún àn zhe dìng jià mǎi lái de 。

Còn ngựa của Sa-lô-môn đều từ Ê-díp-tô mà ra; các con buôn của vua đi lãnh mua nó từng bầy, mỗi bầy theo giá nhất định.

tā men cóng āi jí mǎi lái de chē , měi liàng jià yín liù bǎi shè kè lè , mǎ měi pǐ yì bǎi wǔ shí shè kè lè 。 hè rén zhū wáng hé yà lán zhū wáng suǒ mǎi de chē mǎ , yě shì àn zhè jià zhí jīng tā men shǒu mǎi lái de 。

Người ta từ xứ Ê-díp-tô mua đem lên một cái xe giá sáu trăm siếc-lơ bạc, còn một con ngựa giá một trăm năm mươi siếc-lơ; các vua dân Hê-tít và vua Sy-ri cũng theo giá ấy nhờ những con buôn của vua mà mua về.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.