中文圣经

II LỊCH SỬ 2

đã biết 0/227

殿

suǒ luó mén dìng yì yào wèi yē hé huá de míng jiàn zào diàn yǔ , yòu wèi zì jǐ de guó jiàn zào gōng shì 。

Vả, Sa-lô-môn định cất một cái đền cho danh Đức Giê-hô-va, và một cái cung cho nước mình.

suǒ luó mén jiù tiāo xuǎn qī wàn káng tái de , bā wàn zài shān shàng záo shí tou de , sān qiān liù bǎi dū gōng de 。

Sa-lô-môn bèn lựa bảy vạn người bưng gánh, tám vạn người thợ đẽo đá trên núi, và ba ngàn sáu trăm người đốc công.

:「

suǒ luó mén chà rén qù jiàn tài ěr wáng xī lán , shuō :「 nǐ céng yùn xiāng bǎi mù yǔ wǒ fù dà wèi jiàn gōng jū zhù , qiú nǐ yě zhè yàng dài wǒ 。

Sa-lô-môn sai đến Hi-ram, vua Ty-rơ, mà nói rằng: Vua đã hậu đãi Đa-vít, cha tôi, cung cấp cây bá hương cho người đặng cất cái cung để người ở; xin vua cũng hãy đãi tôi như thế.

殿

wǒ yào wèi yē hé huá — wǒ shén de míng jiàn zào diàn yǔ , fēn bié wèi shèng xiàn gěi tā , zài tā miàn qián fén shāo měi xiāng , cháng bǎi chén shè bǐng , měi zǎo wǎn 、 ān xī rì 、 yuè shuò , bìng yē hé huá — wǒ men shén suǒ dìng de jié qī xiàn fán jì 。 zhè shì yǐ sè liè rén yǒng yuǎn de dìng lì 。

Này tôi toan cất một đền cho danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, biệt đền ấy riêng ra thánh cho Ngài, đặng xông nhũ hương trước mặt Ngài, bày bánh trần thiết luôn luôn, dâng của lễ thiêu về buổi sáng và về buổi chiều, hoặc trong ngày sa-bát, ngày mồng một, hay là trong những ngày lễ định của Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi; điều đó vốn là một lệ định cho Y-sơ-ra-ên đến đời đời.

殿

wǒ suǒ yào jiàn zào de diàn yǔ shèn dà ; yīn wèi wǒ men de shén zhì dà , chāo hū zhū shén 。

Đức Chúa Trời chúng tôi vốn cao sang, vượt qua hết các thần; nên cái đền tôi toan cất sẽ nguy nga.

殿殿

tiān hé tiān shàng de tiān , shàng qiě bù zú tā jū zhù de , shuí néng wèi tā jiàn zào diàn yǔ ne ? wǒ shì shuí ? néng wèi tā jiàn zào diàn yǔ ma ? bú guò zài tā miàn qián shāo xiāng ér yǐ 。

Chớ thì ai có sức xây cất cho Chúa một cái đền; vì trời và đến đỗi trời của các từng trời còn chẳng chứa Ngài được thay! Vậy tôi là ai, mà cất được một cái đền cho Chúa? Cất nó chẳng qua là để xông hương tại trước mặt Ngài đó thôi.

线

xiàn zài qiú nǐ chà yí gè qiǎo jiàng lái , jiù shì shàn yòng jīn 、 yín 、 tóng 、 tiě , hé zǐ sè 、 zhū hóng sè 、 lán sè xiàn , bìng jīng yú diāo kè zhī gōng de qiǎo jiàng , yǔ wǒ fù dà wèi zài yóu dà hé yē lù sā lěng suǒ yù bèi de qiǎo jiàng yì tóng zuò gōng ;

Vậy, bây giờ, vua hãy sai đến cùng tôi một người giỏi về nghề chế đồ vàng, bạc, đồng, sắt, thạo dệt bằng chỉ tím, đỏ và xanh, cùng biết chạm trổ đủ nghề, để làm việc với những người tài giỏi ở bên tôi, tại Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, mà Đa-vít, cha tôi, đã sắm sẵn.

yòu qiú nǐ cóng lí bā nèn yùn xiē xiāng bǎi mù 、 sōng mù 、 tán xiāng mù dào wǒ zhè lǐ lái , yīn wǒ zhī dào nǐ de pú rén shàn yú kǎn fá lí bā nèn de shù mù 。 wǒ de pú rén yě bì yǔ nǐ de pú rén tóng gōng 。

Cũng hãy lấy ở Li-ban gỗ bá hương, gỗ tòng, và gỗ bạch đàn hương mà gởi đến cho tôi vì tôi vẫn biết rằng các tôi tớ vua đều thạo đốn cây trên Li-ban; này các tôi tớ tôi cũng sẽ giúp đỡ các tôi tớ vua,

殿

zhè yàng , kě yǐ gěi wǒ yù bèi xǔ duō de mù liào , yīn wǒ yào jiàn zào de diàn yǔ gāo dà chū qí 。

đặng lo đốn sắm sửa cây gỗ cho nhiều; vì cái đền mà tôi toan cất sẽ nguy nga lạ k”.

。」

nǐ de pú rén kǎn fá shù mù , wǒ bì gěi tā men dǎ hǎo le de xiǎo mài èr wàn gē ěr , dà mài èr wàn gē ěr , jiǔ èr wàn bà tè , yóu èr wàn bà tè 。」

Tôi sẽ cấp cho các tôi tớ vua, là những kẻ đốn cây, hai vạn cô-rơ lúa miến giã rồi, hai vạn cô-rơ lúa mạch, hai vạn bát rượu, và hai vạn bát dầu.

:「」;

tài ěr wáng xī lán xiě xìn huí dá suǒ luó mén shuō :「 yē hé huá yīn wèi ài tā de zǐ mín , suǒ yǐ lì nǐ zuò tā men de wáng 」;

Hi-ram, vua Ty-rơ, bèn viết thơ gởi cho Sa-lô-môn, mà rằng: Vì cớ Đức Giê-hô-va yêu thương dân sự mình, nên Ngài đã lập vua làm vua trên chúng.

:「 使殿

yòu shuō :「 chuàng zào tiān dì de yē hé huá — yǐ sè liè de shén shì yīng dāng chēng sòng de ! tā cì gěi dà wèi wáng yí gè yǒu zhì huì de ér zi , shǐ tā yǒu móu lüè cōng ming , kě yǐ wéi yē hé huá jiàn zào diàn yǔ , yòu wèi zì jǐ de guó jiàn zào gōng shì 。

Hi-ram lại nói: Ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, là Đấng dựng nên trời đất, vì Ngài đã ban cho vua Đa-vít một con trai khôn ngoan, dè dặt, thông minh, để cất một cái đền cho Ngài và một cái cung cho nước người.

「 xiàn zài wǒ dǎ fā yí gè jīng qiǎo yǒu cōng ming de rén qù , tā shì wǒ fù qīn xī lán suǒ yòng de ,

Bây giờ, tôi sai đến cho vua một người khéo, có trí thông sáng, là Hu-ram-A-bi,

线

shì dàn zhī pài yí gè fù rén de ér zi 。 tā fù qīn shì tài ěr rén , tā shàn yòng jīn 、 yín 、 tóng 、 tiě 、 shí 、 mù , hé zǐ sè 、 lán sè 、 zhū hóng sè xiàn yǔ xì má zhì zào gè wù , bìng jīng yú diāo kè , yòu néng xiǎng chū gè yàng de qiǎo gōng 。 qǐng nǐ pài dìng zhè rén , yǔ nǐ de qiǎo jiàng hé nǐ fù — wǒ zhǔ dà wèi de qiǎo jiàng yì tóng zuò gōng 。

con trai của người đàn bà về chi phái Đan, cha người là dân Ty-rơ; người giỏi về nghề chế đồ vàng, bạc, đồng, sắt, đá, và gỗ, thạo dệt chỉ tím, xanh và đỏ sậm, cùng chỉ gai trắng xe mịn, cũng biết làm các thứ chạm trổ, và tạo ra đủ thứ vật xảo mà người ta sẽ biểu nó làm. Nó sẽ làm việc với những thợ khéo của thân phụ vua là Đa-vít chúa tôi.

wǒ zhǔ suǒ shuō de xiǎo mài 、 dà mài 、 jiǔ 、 yóu , yuàn wǒ zhǔ yùn lái gěi zhòng pú rén 。

Vậy bây giờ xin chúa tôi hãy gởi cho các tôi tớ chúa lúa miến, lúa mạch, dầu, và rượu, mà chúa tôi đã nói đến;

。」

wǒ men bì zhào nǐ suǒ xū yòng de , cóng lí bā nèn kǎn fá shù mù , zhā chéng fá zǐ , fú hǎi yùn dào yuē pà ; nǐ kě yǐ cóng nà lǐ yùn dào yē lù sā lěng 。」

còn chúng tôi sẽ đốn gỗ tại trên Li-ban theo số bao nhiêu vua cần dùng, rồi kết thành bè đem ra biển đến Gia-phô; đoạn vua sẽ chở lên Giê-ru-sa-lem.

仿

suǒ luó mén fǎng zhào tā fù dà wèi shù diǎn zhù zài yǐ sè liè dì suǒ yǒu jì jū de wài bāng rén , gòng yǒu shí wǔ wàn sān qiān liù bǎi míng ;

Sa-lô-môn bèn điểm soát các người ngoại quốc ở trong nước Y-sơ-ra-ên, tùy theo số Đa-vít, cha người, đã điểm soát; thấy được mười lăm vạn ba ngàn sáu trăm người.

使

shǐ qī wàn rén káng tái cái liào , bā wàn rén zài shān shàng záo shí tou , sān qiān liù bǎi rén dū lǐ gōng zuò 。

Trong số đó người đặt bảy vạn người làm kẻ khiêng gánh, tám vạn người đẽo đá trên núi, và ba ngàn sáu trăm người đốc công, đặng sai khiến dân chúng làm việc.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.