中文圣经

II LỊCH SỬ 20

đã biết 0/387

cǐ hòu , mó yā rén hé yà mén rén , yòu yǒu mǐ wū ní rén , yì tóng lái gōng jī yuē shā fǎ 。

Sau các việc này, xảy có dân Mô-áp, dân Am-môn, và những người Mao-nít ở cùng họ, kéo đến đặng đánh giặc với Giô-sa-phát

:「 ··。」

yǒu rén lái bào gào yuē shā fǎ shuō :「 cóng hǎi wài yà lán nà biān yǒu dà jūn lái gōng jī nǐ , rú jīn tā men zài hā xǐ xùn · tā mǎ , jiù shì yǐn · jī dǐ 。」

Bấy giờ, có người đến thuật cho Giô-sa-phát, mà rằng: Có một đám quân rất đông từ bên bờ kia của biển, từ nước Sy-ri, mà đến hạm đánh vua; kìa chúng đang ở tại Hát-sát-son-Tha-ma, cũng gọi là Eân-ghê-đi.

便

yuē shā fǎ biàn jù pà , dìng yì xún qiú yē hé huá , zài yóu dà quán dì xuān gào jìn shí 。

Giô-sa-phát sợ hãi, rắp lòng tìm cầu Đức Giê-hô-va, và rao khắp xứ Giu-đa phải kiêng ăn một ngày.

yú shì yóu dà rén jù huì , qiú yē hé huá bāng zhù 。 yóu dà gè chéng dōu yǒu rén chū lái xún qiú yē hé huá 。

Giu-đa nhóm lại đặng cầu Đức Giê-hô-va cứu giúp; người ta ở các thành Giu-đa đều đến đặng tìm cầu Đức Giê-hô-va.

殿

yuē shā fǎ jiù zài yóu dà hé yē lù sā lěng de huì zhōng , zhàn zài yē hé huá diàn de xīn yuàn qián ,

Giô-sa-phát đứng trong hội chúng Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, tại trong đền của Đức Giê-hô-va, trước hành lang mới,

:「

shuō :「 yē hé huá — wǒ men liè zǔ de shén a , nǐ bú shì tiān shàng de shén ma ? nǐ bú shì wàn bāng wàn guó de zhǔ zǎi ma ? zài nǐ shǒu zhōng yǒu dà néng dà lì , wú rén néng dǐ dǎng nǐ 。

mà cầu nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng tôi! Ngài há chẳng phải là Chúa ở trên các từng trời sao? Há chẳng phải Đấng quản trị muôn dân muôn nước sao? ỳ nơi tay Chúa có quyền thế năng lực, chẳng ai chống trả Chúa cho nổi.

wǒ men de shén a , nǐ bú shì céng zài nǐ mín yǐ sè liè rén miàn qián qū zhú zhè dì de jū mín , jiāng zhè dì cì gěi nǐ péng yǒu yà bó lā hǎn de hòu yì yǒng yuǎn wèi yè ma ?

Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi! Ngài há chẳng phải đã đuổi dân ở xứ này khỏi trước mặt dân Y-sơ-ra-ên của Ngài, mà ban xứ ấy cho dòng dõi Aùp-ra-ham, là bạn hữu Chúa, làm sản nghiệp đời đời sao?

tā men zhù zài zhè dì , yòu wèi nǐ de míng jiàn zào shèng suǒ , shuō :

Chúng đã ở đó, và đã cất cho danh Chúa một đền thánh mà rằng:

殿殿。』

『 tǎng yǒu huò huàn lín dào wǒ men , huò dāo bīng zāi yāng , huò wēn yì jī huāng , wǒ men zài jí nán de shí hòu , zhàn zài zhè diàn qián xiàng nǐ hū qiú , nǐ bì chuí tīng ér zhěng jiù , yīn wèi nǐ de míng zài zhè diàn lǐ 。』

Nếu tai họa giáng trên chúng tôi, hoặc gươm giáo, hoặc sự đoán phạt, hoặc dịch hạch, hay là cơn đói kém, thì chúng tôi sẽ đứng trước đền này và trước mặt Chúa (vì danh Chúa ở trong đền này), mà kêu cầu Chúa trong sự gian nan chúng tôi, thì Chúa sẽ dủ nghe và giải cứu cho.

西

cóng qián yǐ sè liè rén chū āi jí dì de shí hòu , nǐ bù róng yǐ sè liè rén qīn fàn yà mén rén 、 mó yā rén , hé xī ěr shān rén , yǐ sè liè rén jiù lí kāi tā men , bú miè jué tā men 。

Trong lúc dân Y-sơ-ra-ên từ xứ Ê-díp-tô lên, Chúa có cấm họ loán đến xứ dân Am-môn, dân Mô-áp, và người ở núi Sê-i-rơ; dân Y-sơ-ra-ên xây khỏi chúng nó, không diệt chúng nó đi;

kàn nǎ , tā men zěn yàng bào fù wǒ men , yào lái qū zhú wǒ men chū lí nǐ de dì , jiù shì nǐ cì gěi wǒ men wèi yè zhī dì 。

kìa, chúng nó báo lại chúng tôi dường nào, đến toan đuổi chúng tôi khỏi sản nghiệp Chúa đã ban cho chúng tôi nhận lấy.

。」

wǒ men de shén a , nǐ bù chéng fá tā men ma ? yīn wèi wǒ men wú lì dǐ dǎng zhè lái gōng jī wǒ men de dà jūn , wǒ men yě bù zhī dào zěn yàng xíng , wǒ men de yǎn mù dān yǎng wàng nǐ 。」

Hỡi Đức Chúa Trời chúng tôi ôi, chớ thì Ngài sẽ không xét đoán chúng nó sao? Vì nơi chúng tôi chẳng còn sức lực gì đối địch cùng đám quân đông đảo này đang đến hãm đánh chúng tôi, và chúng tôi cũng không biết điều gì mình phải làm; nhưng con mắt chúng tôi ngửa trông Chúa!

yóu dà zhòng rén hé tā men de yīng hái 、 qī zǐ 、 ér nǚ dōu zhàn zài yē hé huá miàn qián 。

Cả Giu-đa đều đứng tại trước mặt Đức Giê-hô-va với các đứa nhỏ, vợ, và con cái mình.

nà shí , yē hé huá de líng zài huì zhōng lín dào lì wèi rén yà sà de hòu yì — mǎ tàn yǎ de xuán sūn , yē lì de zēng sūn , bǐ ná yǎ de sūn zi , sā jiā lì yǎ de ér zi yǎ hā xī 。

Bấy giờ, tại giữa hội chúng, Thần Đức Giê-hô-va cảm động Gia-ha-xi-ên, con trai Xa-cha-ri, cháu Bê-na-gia, chắt Giê-hi-ên, chít Ma-tha-nia, là người Lê-vi thuộc về dòng A-sáp,

:「:『

tā shuō :「 yóu dà zhòng rén 、 yē lù sā lěng de jū mín , hé yuē shā fǎ wáng , nǐ men qǐng tīng 。 yē hé huá duì nǐ men rú cǐ shuō :『 bú yào yīn zhè dà jūn kǒng jù jīng huáng ; yīn wèi shèng bài bú zài hu nǐ men , nǎi zài hū shén 。

mà phán rằng: Hỡi các người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem, cùng vua Giô-sa-phát, hãy nghe! Đức Giê-hô-va phán cho các ngươi như vầy: Chớ sợ, chớ kinh hãi bởi cớ đám quân đông đảo này: vì trận giặc này chẳng phải của các ngươi đâu, bèn là của Đức Chúa Trời.

míng rì nǐ men yào xià qù yíng dí , tā men shì cóng xǐ sī pō shàng lái , nǐ men bì zài yē lǔ yī lè kuàng yě qián de gǔ kǒu yù jiàn tā men 。

Ngày mai, hãy đi xuống đón chúng nó: kìa, chúng nó đi lên dốc Xít, các ngươi sẽ gặp chúng nó nơi đầu trũng, trước mặt đồng vắng Giê-ru-ên.

。』」

yóu dà hé yē lù sā lěng rén nǎ , zhè cì nǐ men bú yào zhēng zhàn , yào bǎi zhèn zhàn zhe , kàn yē hé huá wèi nǐ men shī xíng zhěng jiù 。 bú yào kǒng jù , yě bú yào jīng huáng 。 míng rì dāng chū qù yíng dí , yīn wèi yē hé huá yǔ nǐ men tóng zài 。』」

Trong trận này các ngươi sẽ chẳng cần gì tranh chiến; hãy dàn ra, đứng yên lặng mà xem thấy sự giải cứu của Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi. Hỡi Giu-đa và Giê-ru-sa-lem! chớ sợ, chớ kinh hãi; ngày mai, hãy đi ra đón chúng nó, vì Đức Giê-hô-va ở cùng các ngươi.

yuē shā fǎ jiù miàn fú yú dì , yóu dà zhòng rén hé yē lù sā lěng de jū mín yě fǔ fú zài yē hé huá miàn qián , kòu bài yē hé huá 。

Giô-sa-phát bèn cúi sấp mặt xuống đất; và cả Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem đều sấp mặt xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, mà thờ lạy Ngài.

gē xiá zú hé kě lā zú de lì wèi rén dōu qǐ lái , yòng jí dà de shēng yīn zàn měi yē hé huá yǐ sè liè de shén 。

Người Lê-vi về dòng Kê-hát và về dòng Cô-rê đều đứng dậy cất tiếng lớn mà khen ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên.

:「 。」

cì rì qīng zǎo , zhòng rén qǐ lái wǎng tí gē yà de kuàng yě qù 。 chū qù de shí hòu , yuē shā fǎ zhàn zhe shuō :「 yóu dà rén hé yē lù sā lěng de jū mín nǎ , yào tīng wǒ shuō : xìn yē hé huá — nǐ men de shén jiù bì lì wěn ; xìn tā de xiān zhī jiù bì hēng tōng 。」

Buổi sớm mai, chúng đều chổi dậy thật sớm, kéo ra đồng vắng Thê-cô-a; đang lúc chúng đi, Giô-sa-phát đứng tại đó, mà nói rằng: Hỡi người Giu-đa và dân cư thành Giê-ru-sa-lem! hãy nghe ta: Khá tin cậy Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, thì các ngươi sẽ vững chắc; hãy tin các đấng tiên tri Ngài, thì các ngươi sẽ được may mắn.

使穿:「!」

yuē shā fǎ jì yǔ mín shāng yì le , jiù shè lì gē chàng de rén , sòng zàn yē hé huá , shǐ tā men chuān shàng shèng jié de lǐ fú , zǒu zài jūn qián zàn měi yē hé huá shuō :「 dāng chēng xiè yē hé huá , yīn tā de cí ài yǒng yuǎn cháng cún !」

Khi người đã bàn nghị với dân sự, bèn lập những người ca xướng cho Đức Giê-hô-va mặc áo lễ thánh mà đi ra trước cơ binh ngợi khen Chúa rằng: Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì sự thương xót Ngài hằng có đời đời.

西

zhòng rén fāng chàng gē zàn měi de shí hòu , yē hé huá jiù pài fú bīng jī shā nà lái gōng jī yóu dà rén de yà mén rén 、 mó yā rén , hé xī ěr shān rén , tā men jiù bèi dǎ bài le 。

Đang lúc chúng khởi ca hát và ngợi khen thì Đức Giê-hô-va đặt phục binh xông vào dân Am-môn, dân Mô-áp và những kẻ ở núi Sê-i-rơ đã đến hãm đánh Giu-đa; và các dân ấy đều bị bại.

西西

yīn wèi yà mén rén hé mó yā rén qǐ lái , jī shā zhù xī ěr shān de rén , jiāng tā men miè jìn ; miè jìn zhù xī ěr shān de rén zhī hòu , tā men yòu bǐ cǐ zì xiāng jī shā 。

Dân Am-môn và dân Mô-áp dấy lên đánh dân ở núi Sê-i-rơ, đặng diệt chúng nó đi; khi đã diệt dân ở Sê-i-rơ rồi, thì chúng lại trở giết lẫn nhau.

yóu dà rén lái dào kuàng yě de wàng lóu , xiàng nà dà jūn guān kàn , jiàn shī héng biàn dì , méi yǒu yí gè táo tuō de 。

Khi dân Giu-đa đến tháp canh nơi đồng vắng, nhìn đến đám quân đông đảo, thì thấy những thây nằm sãi trên đất, chẳng có một ai thoát khỏi được.

yuē shā fǎ hé tā de bǎi xìng jiù lái shōu qǔ dí rén de cái wù , zài shī shǒu zhōng jiàn le xǔ duō cái wù 、 zhēn bǎo , tā men bāo tuō xià lái de duō dé bù kě xié dài ; yīn wèi shèn duō , zhí shōu qǔ le sān rì 。

Giô-sa-phát và dân sự người đến cướp lấy tài vật của chúng, thấy có nhiều của cải, xác chết, và đồ quí báu, bèn cướp lấy cho đến chừng đem đi không đặng; họ cướp lấy tài vật trong ba ngày, vì là rất nhiều.

dì sì rì zhòng rén jù jí zài bǐ lā jiā gǔ , zài nà lǐ chēng sòng yē hé huá 。 yīn cǐ nà dì fāng míng jiào bǐ lā jiā gǔ , zhí dào jīn rì 。

Qua ngày thứ tư, họ nhóm hiệp tại trũng Bê-ra-ca, vì nơi đó họ ngợi khen Đức Giê-hô-va; bởi cớ ấy người ta đặt tên chỗ đó là trũng Bê-ra-ca cho đến, ngày nay.

使

yóu dà rén hé yē lù sā lěng rén dōu huān huān xǐ xǐ dì huí yē lù sā lěng , yuē shā fǎ shuài lǐng tā men ; yīn wèi yē hé huá shǐ tā men zhàn shèng chóu dí , jiù huān xǐ kuài lè 。

Hết thảy người Giu-đa và người Giê-ru-sa-lem cùng Giô-sa-phát đi đầu trước, trở về Giê-ru-sa-lem cách vui vẻ; vì Đức Giê-hô-va đã làm cho chúng vui mừng, vì cớ quân thù nghịch mình bị đánh bại.

殿

tā men tán qín 、 gǔ sè 、 chuī hào lái dào yē lù sā lěng , jìn le yē hé huá de diàn 。

Chúng gảy đàn cầm, đàn sắt, và thổi sáo mà trở về Giê-ru-sa-lem, đến đền của Đức Giê-hô-va.

liè bāng zhū guó tīng jiàn yē hé huá zhàn bài yǐ sè liè de chóu dí , jiù shèn jù pà 。

Khi các nước thiên hạ nghe Đức Giê-hô-va đã đánh bại quân thù nghịch của Y-sơ-ra-ên, thì lấy làm kinh hãi Đức Chúa Trời.

zhè yàng , yuē shā fǎ de guó dé xiǎng tài píng , yīn wèi shén cì tā sì jìng píng ān 。

Vậy, nước của Giô-sa-phát được hòa bình, vì Đức Chúa Trời người ban cho người sự an nghỉ bốn bên.

yuē shā fǎ zuò yóu dà wáng , dēng jī de shí hòu nián sān shí wǔ suì , zài yē lù sā lěng zuò wáng èr shí wǔ nián 。 tā mǔ qīn míng jiào ā sū bā , nǎi shì lì xī de nǚ ér 。

Vậy, Giô-sa-phát làm vua nước Giu-đa; khi lên ngôi thì tuổi được ba mươi lăm, và người cai trị hai mươi lăm năm tại Giê-ru-sa-lem; tên mẹ người là A-xu-ba, con gái của Si-li.

yuē shā fǎ xiào fǎ tā fù yà sā suǒ xíng de , bù piān zuǒ yòu , xíng yē hé huá yǎn zhōng kàn wèi zhèng de shì 。

Người đi theo con đường của A-sa, cha người, không lìa bỏ, làm điều ngay thẳng trước mặt Đức Giê-hô-va.

zhǐ shì qiū tán hái méi yǒu fèi qù , bǎi xìng yě méi yǒu lì dìng xīn yì guī xiàng tā men liè zǔ de shén 。

Song người không trừ bỏ các nơi cao, và dân sự chưa dốc lòng tìm cầu Đức Chúa Trời của tổ phụ mình.

yuē shā fǎ qí yú de shì , zì shǐ zhì zhōng dōu xiě zài hā ná ní de ér zi yē hù de shū shàng , yě zǎi rù yǐ sè liè zhū wáng jì shàng 。

Các công việc khác của Giô-sa-phát từ đầu đến cuối, đều chép trong truyện Giê-hu, con trai Ha-na-ni, và truyện ấy đã đem vào sách các vua Y-sơ-ra-ên.

cǐ hòu , yóu dà wáng yuē shā fǎ yǔ yǐ sè liè wáng yà hā xiè jiāo hǎo ; yà hā xiè xíng è tài shèn 。

Sau việc đó, Giô-sa-phát, vua Giu-đa, kết giao với A-cha-xia, vua Y-sơ-ra-ên; người này ăn ở rất gian ác.

·

èr wáng hé huǒ zào chuán yào wǎng tā shī qù , suì zài yǐ xún · jiā bié zào chuán 。

Hai vua hội hiệp nhau đặng đóng tàu vượt đi Ta-rê-si; họ đóng tàu tại Ê-xi-ôn-Ghê-be.

:「。」

nà shí mǎ lì shā rén 、 duō dà wǎ de ér zi yǐ lì yǐ xiè xiàng yuē shā fǎ yù yán shuō :「 yīn nǐ yǔ yà hā xiè jiāo hǎo , yē hé huá bì pò huài nǐ suǒ zào de 。」 hòu lái nà chuán guǒ rán pò huài , bù néng wǎng tā shī qù le 。

Khi ấy, Ê-li-ê-xe, con trai Đô-đa-va ở Ma-rê-sa, nói tiên tri về vua Giô-sa-phát, mà rằng: Bởi vì vua kết giao với A-cha-xia, nên Đức Giê-hô-va đã hủy phá công việc vua; những tàu bèn bị bể nát, không vượt đi Ta-rê-si được.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.