中文圣经

II LỊCH SỬ 9

đã biết 0/321

shì bā nǚ wáng tīng jiàn suǒ luó mén de míng shēng , jiù lái dào yē lù sā lěng , yào yòng nán jiě de huà shì wèn suǒ luó mén ; gēn suí tā de rén shèn duō , yòu yǒu luò tuó tuó zhe xiāng liào 、 bǎo shí , hé xǔ duō jīn zǐ 。 tā lái jiàn le suǒ luó mén , jiù bǎ xīn lǐ suǒ yǒu de duì suǒ luó mén dōu shuō chū lái 。

Khi nữ vương nước Sê-ba nghe đồn danh tiếng của Sa-lô-môn, bèn đi đến Giê-ru-sa-lem, lấy những câu đố mà thử người, bà có hầu hạ theo rất đông, có những lạc đà chở thuốc thơm, rất nhiều vàng, và đá quí; bà đến cùng Sa-lô-môn, nói với người mọi điều có ở trong lòng mình.

suǒ luó mén jiàng tā suǒ wèn de dōu dá shàng le , méi yǒu yí jù bù míng bái 、 bù néng dá de 。

Sa-lô-môn đáp các câu hỏi của bà, chẳng câu nào ẩn bí quá cho Sa-lô-môn mà người không giải nghĩa nổi cho bà.

shì bā nǚ wáng jiàn suǒ luó mén de zhì huì hé tā suǒ jiàn zào de gōng shì 、

Khi nữ vương Sê-ba thấy sự khôn ngoan của Sa-lô-môn, cung điện người đã xây cất,

殿

xí shàng de zhēn xiū měi wèi 、 qún chén fēn liè ér zuò 、 pú rén liǎng páng shì lì , yǐ jí tā men de yī fu zhuāng shì 、 jiǔ zhèng , hé jiǔ zhèng de yī fu zhuāng shì , yòu jiàn tā shàng yē hé huá diàn de tái jiē , jiù chà yì dé shén bù shǒu shě ,

những món ăn trên bàn người, nhà cửa các tôi tớ, thứ tự công việc của các quan, và đồ mặc của họ, các quan chước tửu và áo xống của họ, cùng các của lễ thiêu người dâng trong đền Đức Giê-hô-va, thì mất vía,

:「

duì wáng shuō :「 wǒ zài běn guó lǐ suǒ tīng jiàn lùn dào nǐ de shì hé nǐ de zhì huì shí zài shì zhēn de !

bèn nói với vua rằng: Điều tôi nghe nói trong xứ tôi về các lời nói và sự khôn ngoan của vua, thì thật lắm.

wǒ xiān bú xìn nà xiē huà , jí zhì wǒ lái qīn yǎn jiàn le , cái zhī dào nǐ de dà zhì huì ; rén suǒ gào sù wǒ de , hái bú dào yí bàn ; nǐ de shí jì yuè guò wǒ suǒ tīng jiàn de míng shēng 。

Song trước khi tôi chưa đến đây và chưa thấy tận mắt những điều này, thì tôi chẳng tin lời họ; và kìa, người ta chẳng thuật cho tôi nghe đến phân nửa sự khôn ngoan lớn lao của vua; vua thật trổi hơn tiếng đồn tôi đã nghe.

nǐ de qún chén 、 nǐ de pú rén cháng shì lì zài nǐ miàn qián tīng nǐ zhì huì de huà shì yǒu fú de 。

Các quần thần của vua thật có phước thay! Các tôi tớ vua, hằng đứng chầu trước mặt vua, nghe được sự khôn ngoan của vua, thật có phước thay!

使 使。」

yē hé huá — nǐ de shén shì yīng dāng chēng sòng de ! tā xǐ yuè nǐ , shǐ nǐ zuò tā de guó wèi , wèi yē hé huá — nǐ de shén zuò wáng ; yīn wèi nǐ de shén ài yǐ sè liè rén , yào yǒng yuǎn jiān lì tā men , suǒ yǐ lì nǐ zuò tā men de wáng , shǐ nǐ bǐng gōng xíng yì 。」

Đáng ngợi khen thay Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua, vì Ngài vui thích vua, đặt vua ngồi trên ngôi của Ngài đặng làm vua cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời của vua! Bởi vì Đức Chúa Trời của vua yêu mến Y-sơ-ra-ên, đặng làm cho chúng vững bền đến đời đời, nên Ngài đã lập vua làm vua trên chúng, để làm theo sự ngay thẳng và sự công bình.

yú shì shì bā nǚ wáng jiāng yì bǎi èr shí tā lián dé jīn zǐ hé bǎo shí , yǔ jí duō de xiāng liào sòng gěi suǒ luó mén wáng ; tā sòng gěi wáng de xiāng liào , yǐ hòu zài méi yǒu zhè yàng de 。

Đoạn, bà dâng cho vua một trăm hai mươi ta lâng vàng, và rất nhiều thuốc thơm, cùng đá quí; chẳng hề có thuốc thơm nào giống như thuốc thơm của nữ vương nước Sê-ba dâng cho vua Sa-lô-môn.

xī lán de pú rén hé suǒ luó mén de pú rén cóng é fěi yùn le jīn zǐ lái , yě yùn le tán xiāng mù hé bǎo shí lái 。

(Các tôi tớ của Hu-ram và tôi tớ của Sa-lô-môn từ Ô-phia chở vàng đến, cũng có chở về gỗ bạch đàn hương và đá quí.

殿

wáng yòng tán xiāng mù wèi yē hé huá diàn hé wáng gōng zuò tái , yòu wèi gē chàng de rén zuò qín sè ; yóu dà dì cóng lái méi yǒu jiàn guò zhè yàng de 。

Vua dùng gỗ bạch đàn hương ấy mà làm cái thang trong đền của Đức Giê-hô-va, và trong cung điện vua, cùng những đàn cầm đàn sắt cho con hát: trước khi trong nước Giu-đa, người ta chẳng hề thấy có giống như vậy).

suǒ luó mén wáng àn shì bā nǚ wáng suǒ dài lái de , hái tā lǐ wù , lìng wài zhào tā yí qiè suǒ yào suǒ qiú de , dōu sòng gěi tā 。 yú shì nǚ wáng hé tā chén pú zhuǎn huí běn guó qù le 。

Vua Sa-lô-môn tặng cho nữ vương nước Sê-ba mọi đồ bà ước ao và xin, gấp nhiều hơn đồ bà đã đem dâng cho vua. Đoạn, bà và các đầy tớ bà trở về xứ mình.

suǒ luó mén měi nián suǒ dé de jīn zǐ gòng yǒu liù bǎi liù shí liù tā lián dé ,

Vàng mà vua Sa-lô-môn nhận được mỗi năm cân đến sáu trăm bảy mươi ta lâng,

lìng wài hái yǒu shāng rén suǒ jìn de jīn zǐ , bìng qiě ā lā bó zhū wáng yǔ shǔ guó de shěng zhǎng dōu dài jīn yín gěi suǒ luó mén 。

không kể vàng mà các nhà buôn bán, kẻ buôn bán rong đem vào, cùng vàng và bạc mà các vua A-ra-bi và quan tổng trấn của xứ đem nộp cho Sa-lô-môn.

suǒ luó mén wáng yòng chuí chū lái de jīn zǐ dǎ chéng dǎng pái èr bǎi miàn , měi miàn yòng jīn zǐ liù bǎi shè kè lè ;

Sa-lô-môn làm hai trăm cái khiên lớn bằng vàng đánh giát cứ mỗi cái dùng sáu trăm siếc lơ vàng đánh giát,

yòu yòng chuí chū lái de jīn zǐ dǎ chéng dùn pái sān bǎi miàn , měi miàn yòng jīn zǐ sān bǎi shè kè lè , dōu fàng zài lí bā nèn lín gōng lǐ 。

và ba trăm cái khiên nhỏ bằng vàng đánh giát, cứ mỗi cái dùng ba trăm siếc lơ vàng; đoạn vua để các khiên ấy nơi cung rừng Li-ban.

wáng yòng xiàng yá zhì zào yí gè dà bǎo zuò , yòng jīng jīn bāo guǒ 。

Vua cũng làm một cái ngai lớn bằng ngà, và bọc vàng ròng;

bǎo zuò yǒu liù céng tái jiē , yòu yǒu jīn jiǎo dèng , yǔ bǎo zuò xiāng lián 。 bǎo zuò liǎng páng yǒu fú shǒu , kào jìn fú shǒu yǒu liǎng gè shī zi zhàn lì 。

cái ngai có sáu nấc lên, và một cái bệ bằng vàng liền với cái ngai; cũng có thanh nâng tay bên này và bên kia của chỗ ngồi, gần thanh nâng tay có hai con sư tử.

liù céng tái jiē shàng yǒu shí èr gè shī zi zhàn lì , měi céng yǒu liǎng gè : zuǒ biān yí gè , yòu biān yí gè ; zài liè guó zhōng méi yǒu zhè yàng zuò de 。

Lại có mười hai con sư tử đứng trên sáu nấc, bên hữu và bên tả: chẳng có nước nào làm ngai giống như vậy.

suǒ luó mén wáng yí qiè de yǐn qì dōu shì jīn de , lí bā nèn lín gōng lǐ de yí qiè qì mǐn dōu shì jīng jīn de 。 suǒ luó mén nián jiān , yín zi suàn bù liǎo shén me 。

Các đồ dùng để uống của vua Sa-lô-môn đều bằng vàng, và những khí dụng của cung rừng Li-ban cũng đều bằng vàng ròng: trong đời Sa-lô-môn, chẳng kể bạc ra gì,

yīn wèi wáng de chuán zhī yǔ xī lán de pú rén yì tóng wǎng tā shī qù ; tā shī chuán zhī sān nián yí cì zhuāng zài jīn 、 yín 、 xiàng yá 、 yuán hóu 、 kǒng què huí lái 。

vì vua có đoàn tàu vượt sang Ta-rê-si với các tôi tớ của Hi-ram: mỗi ba năm một lần đoàn tàu Ta-rê-si chở đến vàng, bạc ngà voi, con khỉ và con công.

suǒ luó mén wáng de cái bǎo yǔ zhì huì shèng guò tiān xià de liè wáng 。

Aáy vậy, vua Sa-lô-môn trổi hơn các vua trên đất về sự khôn ngoan.

pǔ tiān xià de wáng dū qiú jiàn suǒ luó mén , yào tīng shén cì gěi tā zhì huì de huà 。

Các vua trên đất đều cầu thấy mặt Sa-lô-môn, đặng nghe sự khôn ngoan của người mà Đức Chúa Trời đã để trong lòng người.

tā men gè dài gòng wù , jiù shì jīn qì 、 yín qì 、 yī fu 、 jūn xiè 、 xiāng liào 、 luó mǎ , měi nián yǒu yí dìng zhī lì 。

Cứ hằng năm theo lệ định, chúng đều đem đến vật mình tiến cống, nào những khí dụng bằng bạc, bằng vàng, nào áo xống, binh khí, nào thuốc thơm, ngựa và la.

suǒ luó mén yǒu tào chē de mǎ sì qiān péng , yǒu mǎ bīng yí wàn èr qiān , ān zhì zài tún chē de chéng yì hé yē lù sā lěng , jiù shì wáng nà lǐ 。

Vua Sa-lô-môn có được bốn ngàn tàu ngựa và xe, cùng một vạn hai ngàn lính kỵ, để trong các thành chứa xe, và gần bên vua, tại Giê-ru-sa-lem.

suǒ luó mén tǒng guǎn zhū wáng , cóng dà hé dào fēi lì shì dì , zhí dào āi jí de biān jiè 。

Người quản trị trên các vua, từ sông cái cho đến xứ Phi-li-tin, và cho đến bờ cõi Ê-díp-tô.

使

wáng zài yē lù sā lěng shǐ yín zi duō rú shí tou , xiāng bǎi mù duō rú gāo yuán de sāng shù 。

Tại Giê-ru-sa-lem, vua làm cho bạc ra thường như đá sỏi, và cây bá hương nhiều như cây sung mọc ở nơi đồng bằng.

yǒu rén cóng āi jí hé gè guó wèi suǒ luó mén gǎn mǎ qún lái 。

Có người đem cho Sa-lô-môn những ngựa từ xứ Ê-díp-tô và từ các nước mà đến. Sa-lô-môn qua đời

suǒ luó mén qí yú de shì , zì shǐ zhì zhōng , bù dōu xiě zài xiān zhī ná dān de shū shàng hé shì luó rén yà xī yǎ de yù yán shū shàng , bìng xiān jiàn yì duō lùn ní bā ér zi yē luó bō ān de mò shì shū shàng ma ?

Các công việc khác của Sa-lô-môn làm từ đầu đến cuối đều chép trong sách truyện Na-than, là đấng tiên tri, và trong sách tiên tri của A-hi-gia, người Si-lô, cùng trong sách dị tượng của Giê-đô, đấng tiên kiến luận về việc Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát.

suǒ luó mén zài yē lù sā lěng zuò yǐ sè liè zhòng rén de wáng gòng sì shí nián 。

Sa-lô-môn trị vì trên cả Y-sơ-ra-ên trong bốn mươi năm tại Giê-ru-sa-lem.

suǒ luó mén yǔ tā liè zǔ tóng shuì , zàng zài tā fù dà wèi chéng lǐ 。 tā ér zi luó bō ān jiē xù tā zuò wáng 。

Sa-lô-môn an giấc cùng tổ phụ mình, được chôn trong thành của Đa-vít, là cha người; Rô-bô-am, con trai người, cai trị thế cho người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.