中文圣经

II CÔ-RINH 2

đã biết 0/166

wǒ zì jǐ dìng le zhǔ yì zài dào nǐ men nà lǐ qù , bì xū dà jiā méi yǒu yōu chóu 。

Vậy, chính tôi đã quyết định không trở lại cùng anh em để làm cho anh em buồn rầu;

tǎng ruò wǒ jiào nǐ men yōu chóu , chú le wǒ jiào nà yōu chóu de rén yǐ wài , shuí néng jiào wǒ kuài lè ne ?

vì nếu tôi làm cho anh em buồn rầu, thì thể nào tôi được trông cậy sự vui bởi kẻ mà chính tôi đã làm cho buồn rầu?

wǒ céng bǎ zhè shì xiě gěi nǐ men , kǒng pà wǒ dào de shí hòu , yīng gāi jiào wǒ kuài lè de nà xiē rén , fǎn dǎo jiào wǒ yōu chóu 。 wǒ yě shēn xìn , nǐ men zhòng rén dōu yǐ wǒ de kuài lè wèi zì jǐ de kuài lè 。

Tôi đã viết cho anh em như thế, hầu cho khi tôi đến nơi, sẽ không buồn bởi kẻ đáng làm cho tôi vui: tôi tin cậy ở hết thảy anh em rằng, anh em ai nấy đều lấy sự vui của tôi mà làm vui mình.

wǒ xiān qián xīn lǐ nán guò tòng kǔ , duō duō dì liú lèi , xiě xìn gěi nǐ men , bú shì jiào nǐ men yōu chóu , nǎi shì jiào nǐ men zhī dào wǒ gé wài dì téng ài nǐ men 。

Vả, ấy là đang trong cơn khốn nạn lớn, tấm lòng quặn thắt, nước mắt dầm dề, mà tôi đã viết thơ cho anh em, nào phải để cho anh em âu sầu, nhưng để làm cho anh em biết tình yêu dấu riêng của tôi đối với anh em vậy.

ruò yǒu jiào rén yōu chóu de , tā bú dàn jiào wǒ yōu chóu , yě shì jiào nǐ men zhòng rén yǒu jǐ fēn yōu chóu 。 wǒ shuō jǐ fēn , kǒng pà shuō dé tài zhòng 。

Nếu kẻ nào làm cớ buồn rầu, ấy chẳng phải chỉ làm cho tôi buồn rầu mà thôi, nhưng đã làm cho anh em thảy đều buồn rầu ít nhiều, tôi chẳng muốn nói quá làm gì.

zhè yàng de rén shòu le zhòng rén de zé fá yě jiù gòu le ,

Kẻ đó đã bị phần nhiều người trong anh em quở trách, ấy là đủ rồi;

dǎo bù rú shè miǎn tā , ān wèi tā , miǎn de tā yōu chóu tài guò , shèn zhì chén lún le 。

thà nay anh em tha thứ yên ủi, hầu cho người khỏi bị sa ngã vì sự buồn rầu quá lớn.

suǒ yǐ wǒ quàn nǐ men , yào xiàng tā xiǎn chū jiān dìng bù yí de ài xīn lái 。

Vậy tôi xin anh em hãy bày tỏ lòng yêu thương đối với người đó.

wèi cǐ wǒ xiān qián yě xiě xìn gěi nǐ men , yào shì yàn nǐ men , kàn nǐ men fán shì shùn cóng bú shùn cóng 。

Bởi chưng tôi viết thơ cho anh em, cốt để thử anh em xem có vâng lời trong cả mọi sự cùng chăng.

nǐ men shè miǎn shuí , wǒ yě shè miǎn shuí 。 wǒ ruò yǒu suǒ shè miǎn de , shì zài jī dū miàn qián wèi nǐ men shè miǎn de ,

Nhưng anh em tha thứ ai, thì tôi cũng tha thứ. Vả, nếu tôi đã tha, là vì anh em mà tha, ở trước mặt Đấng Christ,

miǎn dé sā dàn chèn zhe jī huì shèng guò wǒ men , yīn wǒ men bìng fēi bù xiǎo de tā de guǐ jì 。

hầu đừng để cho quỉ Sa-tan thắng chúng ta, vì chúng ta chẳng phải là không biết mưu chước của nó.

wǒ cóng qián wèi jī dū de fú yīn dào le tè luó yà , zhǔ yě gěi wǒ kāi le mén 。

Lại khi tôi đã đến thành Trô-ách đặng giảng Tin Lành của Đấng Christ, dầu Chúa đã mở cửa cho tôi ở đó,

便

nà shí , yīn wèi méi yǒu yù jiàn xiōng dì tí duō , wǒ xīn lǐ bù ān , biàn cí bié nà lǐ de rén wǎng mǎ qí dùn qù le 。

mà vì tôi không gặp anh em tôi là Tít, nên chẳng được yên lòng. Vậy sau khi từ giã các tín đồ, thì tôi qua xứ Ma-xê-đoan.

gǎn xiè shén ! cháng shuài lǐng wǒ men zài jī dū lǐ kuā shèng , bìng jiè zhe wǒ men zài gè chù xiǎn yáng nà yīn rèn shi jī dū ér yǒu de xiāng qì 。

Song tạ ơn Đức Chúa Trời, Ngài làm cho chúng tôi được thắng trong Đấng Christ luôn luôn, và bởi chúng tôi, Ngài rải mùi thơm về sự nhận biết Ngài khắp chốn!

yīn wèi wǒ men zài shén miàn qián , wú lùn zài dé jiù de rén shēn shàng huò miè wáng de rén shēn shàng , dōu yǒu jī dū xīn xiāng zhī qì 。

Vì chúng tôi ở trước mặt Đức Chúa Trời là mùi thơm của Đấng Christ, ở giữa kẻ được cứu, và ở giữa kẻ bị hư mất;

zài zhè děng rén , jiù zuò le sǐ de xiāng qì jiào tā sǐ ; zài nà děng rén , jiù zuò le huó de xiāng qì jiào tā huó 。 zhè shì shuí néng dāng dé qǐ ne ?

cho kẻ nầy, mùi của sự chết làm cho chết; cho kẻ kia, mùi của sự sống làm cho sống. Ai xứng đáng cho những sự nầy?

wǒ men bú xiàng nà xǔ duō rén , wèi lì hùn luàn shén de dào ; nǎi shì yóu yú chéng shí , yóu yú shén , zài shén miàn qián píng zhe jī dū jiǎng dào 。

Vả, chúng tôi chẳng giả mạo lời của Đức Chúa Trời như nhiều kẻ khác; nhưng chúng tôi lấy lòng chân thật, theo như đạo từ Đức Chúa Trời đến thể nào, thì giảng ra thể ấy trước mặt Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.