中文圣经

II CÔ-RINH 7

đã biết 0/180

qīn ài de dì xiong a , wǒ men jì yǒu zhè děng yīng xǔ , jiù dāng jié jìng zì jǐ , chú qù shēn tǐ 、 líng hún yí qiè de wū huì , jìng wèi shén , dé yǐ chéng shèng 。

Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta.

便

nǐ men yào xīn dì kuān dà shōu nà wǒ men 。 wǒ men wèi céng kuī fù shuí , wèi céng bài huài shuí , wèi céng zhàn shuí de pián yi 。

Hãy mở lòng anh em cho chúng tôi: chúng tôi chẳng có làm hại ai, lừa dối ai; thủ lợi ai.

wǒ shuō zhè huà , bú shì yào dìng nǐ men de zuì 。 wǒ yǐ jīng shuō guò , nǐ men cháng zài wǒ men xīn lǐ , qíng yuàn yǔ nǐ men tóng shēng tóng sǐ 。

Tôi chẳng nói điều đó để buộc tội anh em; vì tôi đã nói rằng lòng chúng tôi thuộc về anh em, dầu sống hay chết cũng vậy.

wǒ dà dà dì fàng dǎn , xiàng nǐ men shuō huà ; wǒ yīn nǐ men duō duō kuā kǒu , mǎn dé ān wèi ; wǒ men zài yí qiè huàn nàn zhōng fèn wài de kuài lè 。

Tôi nói với anh em cách bạo dạn; tôi có nhiều lẽ khoe mình vì anh em; tôi được đầy sự yên ủi, tôi được vui mừng quá bội ở giữa mọi sự khó khăn.

wǒ men cóng qián jiù shì dào le mǎ qí dùn de shí hòu , shēn tǐ yě bù dé ān níng , zhōu wéi zāo huàn nàn , wài yǒu zhēng zhàn , nèi yǒu jù pà 。

Vả, khi chúng tôi đến trong xứ Ma-xê-đoan, xác thịt chẳng được yên nghỉ chút nào. Chúng tôi khốn đốn đủ mọi cách: ngoài thì có sự chiến trận, trong thì có sự lo sợ.

dàn nà ān wèi sàng qì zhī rén de shén jiè zhe tí duō lái ān wèi le wǒ men ;

Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng yên ủi kẻ ngã lòng, đã yên ủi tôi bởi Tít đến nơi;

bú dàn jiè zhe tā lái , yě jiè zhe tā cóng nǐ men suǒ dé de ān wèi , ān wèi le wǒ men ; yīn tā bǎ nǐ men de xiǎng niàn 、 āi tòng , hé xiàng wǒ de rè xīn , dōu gào sù le wǒ , jiào wǒ gèng jiā huān xǐ 。

không những bởi người đến mà thôi, nhưng lại bởi sự yên ủi người đã nhận lãnh nơi anh em nữa: người có nói cho chúng tôi biết anh em rất ao ước, khóc lóc, và có lòng sốt sắng đối với tôi, điều đó làm cho tôi càng vui mừng thêm.

wǒ xiān qián xiě xìn jiào nǐ men yōu chóu , wǒ hòu lái suī rán ào huǐ , rú jīn què bú ào huǐ ; yīn wǒ zhī dào , nà xìn jiào nǐ men yōu chóu bú guò shì zàn shí de 。

Dầu nhơn bức thơ tôi, đã làm cho anh em buồn rầu, thì tôi chẳng lấy làm phàn nàn; mà nếu trước đã phàn nàn (vì tôi thấy bức thơ ấy ít nữa cũng làm cho anh em buồn rầu trong một lúc),

rú jīn wǒ huān xǐ , bú shì yīn nǐ men yōu chóu , shì yīn nǐ men cóng yōu chóu zhōng shēng chū ào huǐ lái 。 nǐ men yī zhe shén de yì sī yōu chóu , fán shì jiù bú zhì yú yīn wǒ men shòu kuī sǔn le 。

nay tôi lại mừng, không phải mừng về sự anh em đã phải buồn rầu, song mừng về sự buồn rầu làm cho anh em sanh lòng hối cải. Thật, anh em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, đến nỗi chưa chịu thiệt hại bởi chúng tôi chút nào.

yīn wèi yī zhe shén de yì sī yōu chóu , jiù shēng chū méi yǒu hòu huǐ de ào huǐ lái , yǐ zhì dé jiù ; dàn shì sú de yōu chóu shì jiào rén sǐ 。

Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn; về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết.

nǐ kàn , nǐ men yī zhe shén de yì sī yōu chóu , cóng cǐ jiù shēng chū hé děng de yīn qín 、 zì sù 、 zì hèn 、 kǒng jù 、 xiǎng niàn 、 rè xīn 、 zé fá 。 zài zhè yí qiè shì shàng , nǐ men dōu biǎo míng zì jǐ shì jié jìng de 。

Vậy, hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự ân cần trong anh em là dường nào! Lại có sự chữa chối, buồn giận, răn sợ, sốt sắng, nông nả, trách phạt là dường nào! Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn là thanh sạch trong việc đó.

wǒ suī rán cóng qián xiě xìn gěi nǐ men , què bú shì wèi nà kuī fù rén de , yě bú shì wèi nà shòu rén kuī fù de , nǎi yào zài shén miàn qián bǎ nǐ men gù niàn wǒ men de rè xīn biǎo míng chū lái 。

Lại còn, nếu tôi đã viết thơ cho anh em, ấy không phải vì cớ kẻ làm sự trái nghịch, cũng không phải vì cớ kẻ chịu sự trái nghịch; nhưng hầu cho lòng anh em yêu chuộng chúng tôi được tỏ ra giữa anh em ở trước mặt Đức Chúa Trời.

使

gù cǐ , wǒ men dé le ān wèi 。 bìng qiě zài ān wèi zhī zhōng , yīn nǐ men zhòng rén shǐ tí duō xīn lǐ chàng kuài huān xǐ , wǒ men jiù gèng jiā huān xǐ le 。

Aáy là điều đã yên ủi chúng tôi. Nhơn sự yên ủi đó chúng tôi lại được sự vui mừng càng lớn hơn nữa, khi thấy sự vui mừng của Tít; vì anh em thảy đều đã để cho tâm thần người được yên lặng.

wǒ ruò duì tí duō kuā jiǎng le nǐ men shén me , yě jué de méi yǒu cán kuì ; yīn wǒ duì tí duō kuā jiǎng nǐ men de huà chéng le zhēn de , zhèng rú wǒ duì nǐ men suǒ shuō de huà yě dōu shì zhēn de 。

Nếu tôi đã khoe mình với Tít về anh em trong sự gì, thì tôi cũng chẳng hổ thẹn; nhưng vì chúng tôi đã thường nói điều thật với anh em, nên lời khen về anh em mà chúng tôi khoe với Tít cũng thấy là thật.

bìng qiě tí duō xiǎng qǐ nǐ men zhòng rén de shùn fú , shì zěn yàng kǒng jù zhàn jīng dì jiē dài tā , tā ài nǐ men de xīn cháng jiù yuè fā rè le 。

Khi người nhớ đến sự vâng lời của anh em hết thảy, và anh em tiếp người cách sợ sệt run rẩy dường nào, thì tình yêu thương của người đối với anh em càng bội lên.

wǒ rú jīn huān xǐ , néng zài fán shì shàng wèi nǐ men fàng xīn 。

Tôi vui mừng vì có thể tin cậy anh em trong mọi sự.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.