中文圣经

II CÁC VUA 22

đã biết 0/226

西

yuē xī yà dēng jī de shí hòu nián bā suì , zài yē lù sā lěng zuò wáng sān shí yì nián 。 tā mǔ qīn míng jiào yē dǐ dà , shì bō sī jiā rén yà dà yǎ de nǚ ér 。

Khi Giô-si-a lên làm vua, được tám tuổi; người cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem. Mẹ người tên là Giê-đi-đa, con gái của A-đa-gia, cháu Bô-cát.

西

yuē xī yà xíng yē hé huá yǎn zhōng kàn wèi zhèng de shì , xíng tā zǔ dà wèi yí qiè suǒ xíng de , bù piān zuǒ yòu 。

Người làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, đi theo trọn con đường của Đa-vít, tổ phụ mình, không tẻ tách hoặc về bên hữu, hoặc về bên tả.

西殿

yuē xī yà wáng shí bā nián , wáng chāi qiǎn mǐ shū lán de sūn zǐ 、 yà sà lì de ér zi — shū jì shā fān shàng yē hé huá diàn qù , fēn fù tā shuō :

Năm thứ mười tám đời Giô-si-a, vua sai thơ ký Sa-phan, con trai A-xa-lia, cháu Mê-su-lam, đến đền Đức Giê-hô-va, mà dặn rằng:

使殿

「 nǐ qù jiàn dà jì sī xī lè jiā , shǐ tā jiāng fèng dào yē hé huá diàn de yín zi , jiù shì shǒu mén de cóng mín zhōng shōu jù de yín zi , shù suàn shù suàn ,

Hãy đi lên thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia, đếm bạc đã đem đến trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, tức là bạc mà các người giữ cửa đền thờ đã thâu lấy nơi dân sự;

殿使殿殿

jiāo gěi yē hé huá diàn lǐ bàn shì de rén , shǐ tā men zhuǎn jiāo yē hé huá diàn lǐ zuò gōng de rén , hǎo xiū lǐ diàn de pò huài zhī chù ,

đoạn hãy giao bạc ấy cho những kẻ coi sóc việc đền thờ của Đức Giê-hô-va, để họ giao lại cho thợ sửa sang các nơi hư nứt của đền thờ,

殿

jiù shì zhuǎn jiāo mù jiàng hé gōng rén , bìng wǎ jiàng , yòu mǎi mù liào hé záo chéng de shí tou xiū lǐ diàn yǔ ,

tức thợ mộc, thợ xây cất, thợ hồ, và dùng mua gỗ và đá đẽo đặng tu bổ đền lại.

。」

jiāng yín zi jiāo zài bàn shì de rén shǒu lǐ , bù yǔ tā men suàn zhàng , yīn wèi tā men bàn shì chéng shí 。」

Song chớ tính sổ bạc giao nơi tay chúng, vì chúng vốn làm thành thực.

:「殿。」

dà jì sī xī lè jiā duì shū jì shā fān shuō :「 wǒ zài yē hé huá diàn lǐ dé le lǜ fǎ shū 。」 xī lè jiā jiāng shū dì gěi shā fān , shā fān jiù kàn le 。

Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia nói với thơ ký Sa-phan rằng: Tôi đã tìm được quyển luật pháp trong đền thờ Đức Giê-hô-va. Hinh-kia trao quyển sách đó cho Sa-phan, và người đọc nó.

:「殿殿。」

shū jì shā fān dào wáng nà lǐ , huí fù wáng shuō :「 nǐ de pú rén yǐ jiāng diàn lǐ de yín zi dǎo chū shù suàn , jiāo gěi yē hé huá diàn lǐ bàn shì de rén le 。」

Đoạn, thơ ký Sa-phan đến tìm vua, thuật lại điều này mà rằng: Các tôi tớ vua đã đóng bạc tìm đặng trong đền thờ, và đã giao nơi tay các người lo coi sóc công việc đền thờ của Đức Giê-hô-va.

:「。」

shū jì shā fān yòu duì wáng shuō :「 jì sī xī lè jiā dì gěi wǒ yí juàn shū 。」 shā fān jiù zài wáng miàn qián dú nà shū 。

Thơ ký Sa-phan lại nói rằng: Thầy tế lễ thượng phẩm Hinh-kia có trao cho tôi một quyển sách; đoạn, Sa-phan đọc sách đó trước mặt vua.

便

wáng tīng jiàn lǜ fǎ shū shàng de huà , biàn sī liè yī fu ,

Vua vừa nghe các lời của sách luật pháp, liền xé quần áo mình.

fēn fù jì sī xī lè jiā yǔ shā fān de ér zi yà xī gān 、 mǐ gāi yà de ér zi yà gé bō 、 shū jì shā fān hé wáng de chén pú yà sā yǎ , shuō :

Đoạn, vua truyền lịnh cho thầy tế lễ Hinh-kia, cho A-hi-cam, con trai Sa-phan, cho Aïc-bồ, con trai Mi-ca-gia, cho Sa-phan, thơ ký, và cho A-sa-gia, đầy tớ của vua, mà rằng:

。」

「 nǐ men qù wèi wǒ 、 wèi mín 、 wèi yóu dà zhòng rén , yǐ zhè shū shàng de huà qiú wèn yē hé huá ; yīn wèi wǒ men liè zǔ méi yǒu tīng cóng zhè shū shàng de yán yǔ , méi yǒu zūn zhe shū shàng suǒ fēn fù wǒ men de qù xíng , yē hé huá jiù xiàng wǒ men dà fā liè nù 。」

Hãy đi cầu vấn Đức Giê-hô-va cho ta, cho dân sự, và cho cả Giu-đa, về các lời của sách mới tìm được. Vì cơn giận của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng chúng ta thật là lớn lao, tại tổ phụ chúng ta không có nghe theo các lời của sách này, và không làm theo điều đã truyền phán cho chúng ta.

yú shì , jì sī xī lè jiā hé yà xī gān 、 yà gé bō 、 shā fān 、 yà sā yǎ dōu qù jiàn nǚ xiān zhī hù lè dà 。 hù lè dà shì zhǎng guǎn lǐ fú shā lóng de qī ; shā lóng shì hā ěr hā sī de sūn zi 、 tè wǎ de ér zi 。 hù lè dà zhù zài yē lù sā lěng dì èr qū 。 tā men qǐng wèn yú tā 。

Vậy, thầy tế lễ Hinh-kia, A-hi-cam, Aïc-bồ, Sa-phan, và A-sa-gia đi tìm nữ tiên tri Hun-đa, vợ của Sa-lum, người giữ áo lễ, con trai của Tiếc-va, cháu của Hạt-ha; người ở tại Giê-ru-sa-lem, trong quận thứ nhì. Chúng nói chuyện với nàng,

:「 :『

tā duì tā men shuō :「 yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō :『 nǐ men kě yǐ huí fù nà chāi qiǎn nǐ men lái jiàn wǒ de rén shuō ,

nàng bèn nói rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên nói như vầy: Hãy nói với người sai các ngươi đến ta rằng:

yē hé huá rú cǐ shuō : wǒ bì zhào zhe yóu dà wáng suǒ dú nà shū shàng de yí qiè huà , jiàng huò yǔ zhè dì hé qí shàng de jū mín 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ dẫn tai họa trên chỗ này và trên dân cư nó, làm hoàn thành mọi lời của sách mà vua Giu-đa đã đọc.

忿。』

yīn wèi tā men lí qì wǒ , xiàng bié shén shāo xiāng , yòng tā men shǒu suǒ zuò de rě wǒ fā nù , suǒ yǐ wǒ de fèn nù bì xiàng zhè dì fā zuò , zǒng bù zhǐ xī 。』

Bởi vì dân Giu-đa đã lìa bỏ ta, đốt hương cho các thần khác, chọc giận vì các công việc của tay chúng nó, nên cơn giận ta sẽ nổi lên cùng chỗ này, không hề nguôi.

:『

rán ér , chà qiǎn nǐ men lái qiú wèn yē hé huá de yóu dà wáng , nǐ men yào zhè yàng huí fù tā shuō :『 yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō : zhì yú nǐ suǒ tīng jiàn de huà ,

Còn về vua Giu-đa đã sai các người cầu vấn Đức Giê-hô-va, thì hãy nói với người rằng: Về các lời người đã nghe Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy:

使便

jiù shì tīng jiàn wǒ zhǐ zhe zhè dì hé qí shàng de jū mín suǒ shuō 、 yào shǐ zhè dì biàn wèi huāng chǎng 、 mín shòu zhòu zǔ de huà , nǐ biàn xīn lǐ jìng fú , zài wǒ miàn qián zì bēi , sī liè yī fú , xiàng wǒ kū qì , yīn cǐ wǒ yīng yǔn le nǐ 。 zhè shì wǒ — yē hé huá shuō de 。

Khi ngươi nghe lời ta phán nghịch cùng chỗ này, và nghịch cùng dân cư nó rằng, chỗ này sẽ bị phá hoang, dân cư trở thành rủa sả, thì ngươi có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, xé quần áo mình, và khóc lóc trước mặt ta; bởi vậy cho nên ta cũng có nghe ngươi.

使。』」

wǒ bì shǐ nǐ píng píng ān ān dì guī dào fén mù dào nǐ liè zǔ nà lǐ ; wǒ yào jiàng yǔ zhè dì de yí qiè zāi huò , nǐ yě bú zhì qīn yǎn kàn jiàn 。』」 tā men jiù huí fù wáng qù le 。

Kìa, ta sẽ thâu ngươi về cùng các tổ phụ ngươi; và ngươi sẽ được thâu vào nơi mồ mả ngươi cách bình an, và mắt ngươi sẽ chẳng thấy những điều tai họa mà ta toan giáng xuống trên chỗ nầy. Chúng bèn tâu lại cho vua những lời ấy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.