中文圣经

II CÁC VUA 9

đã biết 0/340

:「

xiān zhī yǐ lì shā jiào le yí gè xiān zhī mén tú lái , fēn fù tā shuō :「 nǐ shù shàng yāo , shǒu ná zhè píng gāo yóu wǎng jī liè de lā mò qù 。

Đấng tiên tri Ê-li-sê gọi một người trong bọn môn đồ của những tiên tri, mà nói rằng: Hãy thắt lưng, đem ve dầu này theo ngươi, và hãy đi đến Ra-mốt tại Ga-la-át.

使

dào le nà lǐ , yào xún zhǎo níng shì de sūn zi 、 yuē shā fǎ de ér zi yē hù , shǐ tā cóng tóng liáo zhōng qǐ lái , dài tā jìn yán mì de wū zi ,

Khi ngươi đã đến đó, hãy kiếm Giê-hu là con trai của Giô-sa-phát, cháu Nim-si, ở đâu; đoạn ngươi sẽ vào, khiến người chổi dậy khỏi anh em mình, và dẫn người vào trong một phòng kín.

:『。』。」

jiāng píng lǐ de gāo yóu dǎo zài tā tóu shàng , shuō :『 yē hé huá rú cǐ shuō : wǒ gāo nǐ zuò yǐ sè liè wáng 。』 shuō wán le , jiù kāi mén táo pǎo , bú yào chí yán 。」

Bấy giờ, ngươi sẽ lấy ve dầu, đổ trên đầu người, và nói rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta xức dầu cho ngươi làm vua trên Y-sơ-ra-ên. Đoạn, hãy mở cửa ra và trốn đi, chớ hưỡn đãi.

yú shì nà shào nián xiān zhī wǎng jī liè de lā mò qù le 。

Như vậy, người tôi tớ trai trẻ của đấng tiên tri đi đến Ra-mốt tại Ga-la-át.

:「。」:「?」:「。」

dào le nà lǐ , kàn jiàn zhòng jūn zhǎng dōu zuò zhe , jiù shuō :「 jiāng jūn nǎ , wǒ yǒu huà duì nǐ shuō 。」 yē hù shuō :「 wǒ men zhòng rén lǐ , nǐ yào duì nǎ yí gè shuō ne ?」 huí dá shuō :「 jiāng jūn nǎ , wǒ yào duì nǐ shuō 。」

Khi người đến, các quan tướng đạo quân đang ngồi. Người nói với Giê-hu rằng: Hỡi quan tướng, tôi có chuyện nói với ông. Giê-hu đáp rằng: Có chuyện nói với ai trong chúng ta? Người trai trẻ đáp: Hỡi quan tướng, với ông.

:「 :『

yē hù jiù qǐ lái , jìn le wū zǐ , shào nián rén jiāng gāo yóu dǎo zài tā tóu shàng , duì tā shuō :「 yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō :『 wǒ gāo nǐ zuò yē hé huá mín yǐ sè liè de wáng 。

vậy, Giê-hu đứng dậy, và đi vào trong nhà. người trai trẻ bèn đổ dầu trên đầu người, và nói rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Ta xức dầu cho ngươi làm vua trên Y-sơ-ra-ên, là dân sự của Đức Giê-hô-va.

nǐ yào jī shā nǐ zhǔ rén yà hā de quán jiā , wǒ hǎo zài yē xǐ bié shēn shàng shēn wǒ pú rén zhòng xiān zhī hé yē hé huá yí qiè pú rén liú xuè de yuān 。

Ngươi sẽ đánh giết nhà A-háp, chủ ngươi; và ta sẽ báo Giê-sa-bên về huyết của các tiên tri, tôi tớ ta, cùng huyết của hết thảy tôi tớ của Đức Giê-hô-va.

yà hā quán jiā bì dōu miè wáng , fán shǔ yà hā de nán dīng , wú lùn shì kùn zhù de 、 zì yóu de , wǒ bì cóng yǐ sè liè zhōng jiǎn chú ,

Cả nhà A-háp sẽ bị diệt hết; các người nam của nhà A-háp, vô luận kẻ nô lệ hay là người được tự do ta sẽ giết khỏi trong Y-sơ-ra-ên;

使

shǐ yà hā de jiā xiàng ní bā ér zi yē luó bō ān de jiā , yòu xiàng yà xī yǎ ér zi bā shā de jiā 。

và ta sẽ làm cho nhà A-háp giống như nhà Giê-rô-bô-am, con trai của Nê-bát, và giống như nhà Ba-ê-sa, con trai của A-hi-gia.

。』」

yē xǐ bié bì zài yē sī liè tián lǐ bèi gǒu suǒ chī , wú rén zàng mái 。』」 shuō wán le , shào nián rén jiù kāi mén táo pǎo le 。

Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên trong đồng Gít-rê-ên, chẳng có ai chôn người. Đoạn, người trai trẻ mở cửa ra và chạy trốn.

:「?」:「。」

yē hù chū lái , huí dào tā zhǔ rén de chén pú nà lǐ , yǒu yì rén wèn tā shuō :「 píng ān ma ? zhè kuáng wàng de rén lái jiàn nǐ yǒu shén me shì ne ?」 huí dá shuō :「 nǐ men rèn de nà rén , yě zhī dào tā shuō shén me 。」

Giê-hu bèn đi ra, đến cùng các tôi tớ của chủ mình. Chúng nó hỏi rằng: Mọi sự bình an chớ? Kẻ điên này đến kiếm anh mà chi? Người đáp với chúng nó rằng: Các ngươi biết người và lời của người nói.

:「。」:「:『。』」

tā men shuō :「 zhè shì jiǎ huà , nǐ jù shí dì gào sù wǒ men 。」 huí dá shuō :「 tā rú cǐ rú cǐ duì wǒ shuō 。 tā shuō :『 yē hé huá rú cǐ shuō : wǒ gāo nǐ zuò yǐ sè liè wáng 。』」

Nhưng chúng nó đáp rằng: Nói dối! Hãy nói cho chúng ta. Vậy, người nói với chúng rằng: Người có nói với ta cách này cách kia, rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta xức dầu cho ngươi làm vua trên Y-sơ-ra-ên.

使:「!」

tā men jiù jí máng gè jiāng zì jǐ de yī fu pù zài shàng céng tái jiē , shǐ yē hù zuò zài qí shàng ; tā men chuī jiǎo , shuō :「 yē hù zuò wáng le !」

Ai nấy liền lật đật lấy quần áo mình, trải xuống dưới chân người trên các nấc thang. Đoạn, chúng nó thổi kèn, và tung hô rằng: Giê-hu làm vua!

zhè yàng , níng shì de sūn zi 、 yuē shā fǎ de ér zi yē hù bèi pàn yuē lán 。 xiān shì yuē lán hé yǐ sè liè zhòng rén yīn wèi yà lán wáng hā xuē de yuán gù , bǎ shǒu jī liè de lā mò ;

Aáy vậy, Giê-hu, con trai Giô-sa-phát, cháu Nim-si, làm phản Giô-ram. Vả, vì cớ Ha-xa-ên, vua Sy-ri, Giô-ram và cả quân Y-sơ-ra-ên đều binh vực Ra-mốt tại Ga-la-át,

:「。」

dàn yuē lán wáng huí dào yē sī liè , yī zhì yǔ yà lán wáng hā xuē dǎ zhàng suǒ shòu de shāng 。 yē hù shuō :「 ruò hé nǐ men de yì sī , jiù bù róng rén táo chū chéng wǎng yē sī liè bào xìn qù 。」

nhưng vua Giô-ram đã trở về Gít-rê-ên đặng chữa lành những vít thương mà người đã bị bởi quân Sy-ri, khi người đánh giặc với Ha-xa-ên vua Sy-ri. Giê-hu bèn nói rằng: Nếu các ngươi vừa ý, chớ để một ai thoát khỏi thành đi thông tin cho Gít-rê-ên.

yú shì yē hù zuò chē wǎng yē sī liè qù , yīn wèi yuē lán bìng wò zài nà lǐ 。 yóu dà wáng yà hā xiè yǐ jīng xià qù kàn wàng tā 。

Vậy, Giê-hu lên xe, qua Gít-rê-ên, vì Giô-ram đau liệt nằm tại đó. A-cha-xia, vua Giu-đa, cũng đi xuống đó đặng thăm Giô-ram.

:「。」:「?」

yǒu yí gè shǒu wàng de rén zhàn zài yē sī liè de lóu shàng , kàn jiàn yē hù dài zhe yì qún rén lái , jiù shuō :「 wǒ kàn jiàn yì qún rén 。」 yuē lán shuō :「 dǎ fā yí gè qí mǎ de qù yíng jiē tā men , wèn shuō : píng ān bù píng ān ?」

Lính canh đứng trên tháp Gít-rê-ên, thấy đạo quân của Giê-hu đến, bèn la lên rằng: Tôi thấy những đạo quân đến. Giô-ram liền bảo rằng: Hãy sai một người lính kỵ đi đón họ, và hỏi rằng: Bình yên chăng?

:「?」:「!」:「使。」

qí mǎ de jiù qù yíng jiē yē hù , shuō :「 wáng wèn shuō , píng ān bù píng ān ?」 yē hù shuō :「 píng ān bù píng ān yǔ nǐ hé gān ? nǐ zhuǎn zài wǒ hòu tou ba !」 shǒu wàng de rén yòu shuō :「 shǐ zhě dào le tā men nà lǐ , què bù huí lái 。」

Vậy, có người lính kỵ đi đón Giê-hu, và nói với người rằng: Vua hỏi: Bình yên chăng? Giê-hu đáp: Sự bình yên có can hệ chi ngươi? Hãy lui sau ta. Tên lính canh báo tin rằng: Sứ giả đã đi đến nơi quân ấy rồi, nhưng không trở về.

:「?」:「!」

wáng yòu dǎ fā yí gè qí mǎ de qù 。 zhè rén dào le tā men nà lǐ , shuō :「 wáng wèn shuō , píng ān bù píng ān ?」 yē hù shuō :「 píng ān bù píng ān yǔ nǐ hé gān ? nǐ zhuǎn zài wǒ hòu tou ba !」

Người lại sai một người lính kỵ thứ nhì, cũng đến cùng chúng nó, và nói: Vua hỏi: Bình yên chăng? Giê-hu đáp: Sự bình yên có can hệ chi ngươi? Hãy lui sau ta.

:「。」

shǒu wàng de rén yòu shuō :「 tā dào le tā men nà lǐ , yě bù huí lái ; chē gǎn dé shèn měng , xiàng níng shì de sūn zi yē hù de gǎn fǎ 。」

Lính canh lại báo tin rằng: Sứ giả đã đến nơi chúng nó rồi, nhưng người không trở về. Vả, cách dẫn xe giống như cách của Giê-hu, con trai Nim-si, vì người dẫn cách hung hăng.

:「!」

yuē lán fēn fù shuō :「 tào chē !」 rén jiù gěi tā tào chē 。 yǐ sè liè wáng yuē lán hé yóu dà wáng yà hā xiè gè zuò zì jǐ de chē chū qù yíng jiē yē hù , zài yē sī liè rén ná bó de tián nà lǐ yù jiàn tā 。

Giô-ram bèn nói rằng: Hãy thắng xe. Người ta thắng xe người. Đoạn Giô-ram, vua Y-sơ-ra-ên, và A-cha-xia, vua Giu-đa, mỗi người đều lên xe mình, kéo ra đón Giê-hu, gặp người trong đồng ruộng của Na-bốt, người Gít-rê-ên.

:「?」:「?」

yuē lán jiàn yē hù jiù shuō :「 yē hù a , píng ān ma ?」 yē hù shuō :「 nǐ mǔ qīn yē xǐ bié de yín xíng xié shù zhè yàng duō , yān néng píng ān ne ?」

Vừa khi Giô-ram thấy Giê-hu thì nói rằng: Hỡi Giê-hu, bình yên chăng? Nhưng Giê-hu đáp rằng: Chi! Hễ sự gian dâm sự tà thuật của Giê-sa-bên mẹ vua, còn nhiều dừng ấy, thì bình yên sao đặng?

:「!」

yuē lán jiù zhuǎn chē táo pǎo , duì yà hā xiè shuō :「 yà hā xiè a , fǎn le !」

Giô-ram bèn trở tay mình, chạy trốn, nói với A-cha-xia rằng: ù A-cha-xia, có mưu phản!

穿

yē hù kāi mǎn le gōng , shè zhōng yuē lán de jǐ bèi , jiàn cóng xīn wō chuān chū , yuē lán jiù pú dǎo zài chē shàng 。

Giê-hu nắm lấy cung mình bắn, tên trúng nhằm Giô-ram giữa hai vai, thấu ngang trái tim, và người ngã xuống trong xe mình.

:「

yē hù duì tā de jūn zhǎng bì jiǎ shuō :「 nǐ bǎ tā pāo zài yē sī liè rén ná bó de tián jiān 。 nǐ dāng zhuī xiǎng , nǐ wǒ yì tóng zuò chē gēn suí tā fù yà hā de shí hòu , yē hé huá duì yà hā suǒ shuō de yù yán ,

Đoạn, Giê-hu nói với Bích-ca, quan tướng mình rằng: Hãy đem liệng hắn trong đồng ruộng của Na-bốt, người Gít-rê-ên; vì khá nhớ lại một lần kia ta và ngươi đồng cỡi ngựa theo sau A-háp, cha hắn, thì Đức Giê-hô-va có phán về người lời lý đoán này:

:『。』。」

shuō :『 wǒ zuó rì kàn jiàn ná bó de xuè hé tā zhòng zǐ de xuè , wǒ bì zài zhè kuài tián shàng bào yìng nǐ 。』 zhè shì yē hé huá shuō de , xiàn zài nǐ yào zhào zhe yē hé huá de huà , bǎ tā pāo zài zhè tián jiān 。」

Quả thật, hôm qua ta đã thấy huyết của Na-bốt và của các con trai người; ta cũng sẽ báo ngươi lại tại chính nơi đồng ruộng này. Bởi có đó, hãy đem liệng hắn trong đồng ruộng này, y như lời của Đức Giê-hô-va đã phán.

:「。」

yóu dà wáng yà hā xiè jiàn zhè guāng jǐng , jiù cóng yuán tíng zhī lù táo pǎo 。 yē hù zhuī gǎn tā , shuō :「 bǎ zhè rén yě shā zài chē shàng 。」 dào le kào jìn yǐ bó lián gū ěr de pō shàng jī shāng le tā 。 tā táo dào mǐ jí duō , jiù sǐ zài nà lǐ 。

Khi A-cha-xia, vua Giu-đa, thấy việc này, bèn chạy trốn về lối lầu vườn. Nhưng Giê-hu đuổi theo người, và biểu rằng: Cũng hãy đánh chết hắn trên xe hắn nữa. Họ bèn hãm đánh người, tại nơi dốc Gu-rơ, gần Gíp-lê-am. Đoạn, A-cha-xia trốn đến Mê-ghi-đô, và chết tại đó.

tā de chén pú yòng chē jiāng tā de shī shǒu sòng dào yē lù sā lěng , zàng zài dà wèi chéng tā zì jǐ de fén mù lǐ , yǔ tā liè zǔ tóng zàng 。

Các tôi tớ người để thây người trên một cái xe chở về Giê-ru-sa-lem, và chôn trong mồ người, chung cùng các tổ phụ người, tại thành Đa-vít.

yà hā xiè dēng jī zuò yóu dà wáng de shí hòu , shì zài yà hā de ér zi yuē lán dì shí yī nián 。

A-cha-xia lên ngôi làm vua Giu-đa nhằm năm thứ mười một đời Giô-ram, con trai A-háp.

yē hù dào le yē sī liè ; yē xǐ bié tīng jiàn jiù cā fěn 、 shū tóu , cóng chuāng hù lǐ wǎng wài guān kàn 。

Giê-hu liền đến tại Gít-rê-ên. Giê-sa-bên hay, bèn giồi phấn mặt mình, trang điểm đầu, và đứng trông nơi cửa sổ.

:「?」

yē hù jìn mén de shí hòu , yē xǐ bié shuō :「 shā zhǔ rén de xīn lì a , píng ān ma ?」

Khi Giê-hu đi qua cửa thành, nàng nói rằng: Hỡi Xim-ri, kẻ giết chúa mình! Bình yên chăng?

:「?」

yē hù tái tóu xiàng chuāng hù guān kàn , shuō :「 shuí shùn cóng wǒ ?」 yǒu liǎng sān gè tài jian cóng chuāng hù wǎng wài kàn tā 。

Giê-hu ngước mắt lên về hướng cửa sổ, nói rằng: Trên cao kia, ai thuộc về ta? Ai? Hai ba quan hoạn bèn ngó ra về hướng người.

:「!」

yē hù shuō :「 bǎ tā rēng xià lái !」 tā men jiù bǎ tā rēng xià lái 。 tā de xuè jiàn zài qiáng shàng hé mǎ shàng ; yú shì bǎ tā jiàn tà le 。

Người kêu chúng rằng: Vậy, hãy ném nó xuống đất! Chúng ném nàng xuống đất, và huyết vọt lại trên tường và trên ngựa, rồi ngựa giày đạp nàng dưới chân.

:「。」

yē hù jìn qù , chī le hē le , fēn fù shuō :「 nǐ men bǎ zhè bèi zhòu zǔ de fù rén zàng mái le , yīn wèi tā shì wáng de nǚ ér 。」

Giê-hu vào, ăn và uống xong, đoạn nói rằng: Vậy, hãy đi xem đàn bà khốn nạn và lo chôn nó, vì nó là con gái của vua.

tā men jiù qù zàng mái tā , zhī xún dé tā de tóu gǔ hé jiǎo , bìng shǒu zhǎng 。

Vậy, các tôi tớ đi đặng chôn nàng; nhưng chúng chỉ còn thấy cái sọ, hai chân, và lòng bàn tay nàng mà thôi.

:「:『

tā men huí qù gào sù yē hù , yē hù shuō :「 zhè zhèng yìng yàn yē hé huá jiè tā pú rén tí sī bǐ rén yǐ lì yà suǒ shuō de huà , shuō :『 zài yē sī liè tián jiān , gǒu bì chī yē xǐ bié de ròu ;

Chúng trở về cho chủ mình hay điều đó. Giê-hu bèn nói: Aáy là lời của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng Ê-li, người Thi-sê-be, tôi tớ Ngài, mà phán rằng: Chó sẽ ăn thịt Giê-sa-bên tại trong đồng ruộng Gít-rê-ên;

。』」

yē xǐ bié de shī shǒu bì zài yē sī liè tián jiān rú tóng fèn tǔ , shèn zhì rén bù néng shuō zhè shì yē xǐ bié 。』」

và thấy nàng sẽ như phân trên mặt đất, trong ruộng Gít-rê-ên, đến đỗi người ta không thể nói rằng: Này là Giê-sa-bên.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.