中文圣经

II SA-MU-ÊN 16

đã biết 0/242

dà wèi gāng guò shān dǐng , jiàn mǐ fēi bō shè de pú rén xǐ bā lā zhe bèi hǎo le de liǎng pǐ lǘ , lǘ shàng tuó zhe èr bǎi miàn bǐng , yì bǎi pú táo bǐng , yì bǎi gè xià tiān de guǒ bǐng , yì pí dài jiǔ lái yíng jiē tā 。

Đa-vít vừa trèo qua khỏi chót núi, thì Xíp-ba, tôi tớ của Mê-phi-bô-sết, đến đón vua với hai con lừa mang bành chở hai trăm ổ bánh, một trăm cái bánh nhỏ bằng trái nho, một trăm cái bánh nhỏ bằng trái vả, và một bầu rượu nho.

:「?」:「。」

wáng wèn xǐ bā shuō :「 nǐ dài zhè xiē lái shì shén me yì sī ne ?」 xǐ bā shuō :「 lǘ shì gěi wáng de jiā juàn qí de ; miàn bǐng hé xià tiān de guǒ bǐng shì gěi shào nián rén chī de ; jiǔ shì gěi zài kuàng yě pí fá rén hē de 。」

Vua hỏi Xíp-ba rằng: Ngươi có ý dùng điều đó làm chi? Xíp-ba thưa rằng: Hai con lừa dùng làm vật cỡi cho nhà vua; bánh và trái nho dùng làm đồ ăn cho các người trai trẻ, còn rượu để dùng cho những kẻ mệt nhọc trong đồng vắng uống.

:「?」:「:『。』」

wáng wèn shuō :「 nǐ zhǔ rén de ér zi zài nǎ lǐ ne ?」 xǐ bā huí dá wáng shuō :「 tā réng zài yē lù sā lěng , yīn tā shuō :『 yǐ sè liè rén jīn rì bì jiāng wǒ fù de guó guī huán wǒ 。』」

Vua hỏi: Vậy, con trai của chủ ngươi đâu? Xíp-ba thưa: Người ở lại Giê-ru-sa-lem, vì nói rằng: Ngày nay nhà Y-sơ-ra-ên sẽ trả nước của cha ta lại cho ta.

:「。」:「。」

wáng duì xǐ bā shuō :「 fán shǔ mǐ fēi bō shè de dōu guī nǐ le 。」 xǐ bā shuō :「 wǒ kòu bài wǒ zhǔ wǒ wáng , yuàn wǒ zài nǐ yǎn qián méng ēn 。」

Vua bèn nói cùng Xíp-ba rằng: Thế thì, mọi vật thuộc về Mê-phi-bô-sết đều nên của ngươi. Xíp-ba tiếp: Nầy tôi phục dưới chân vua. Vua ôi, ước gì tôi được ơn trước mặt vua chúa tôi!

dà wèi wáng dào le bā hù lín , jiàn yǒu yí gè rén chū lái , shì sǎo luó zú jī lā de ér zi , míng jiào shì měi 。 tā yí miàn zǒu yí miàn zhòu mà ,

Vua Đa-vít vừa đến Ba-hu-rim, thấy ở đó đi ra một người về dòng dõi nhà Sau-lơ, tên là Si-mê-i, con trai của Ghê-ra. Người vừa đi tới vừa rủa sả,

yòu ná shí tou kǎn dà wèi wáng hé wáng de chén pú ; zhòng mín hé yǒng shì dōu zài wáng de zuǒ yòu 。

ném đá vào Đa-vít và các tôi tớ của vua; cả dân sự và các dõng sĩ đều vây phủ vua bên hữu và bên tả.

:「

shì měi zhòu mà shuō :「 nǐ zhè liú rén xuè de huài rén nǎ , qù ba qù ba !

Si-mê-i rủa sả Đa-vít như lời nầy: ù người huyết, người gian tà kia! hãy đi nà, hãy đi nà!

。」

nǐ liú sǎo luó quán jiā de xuè , jiē xù tā zuò wáng ; yē hé huá bǎ zhè zuì guī zài nǐ shēn shàng , jiāng zhè guó jiāo gěi nǐ ér zǐ yā shā lóng 。 xiàn zài nǐ zì qǔ qí huò , yīn wèi nǐ shì liú rén xuè de rén 。」

Người đã tự làm vua thay vì Sau-lơ, nên bây giờ Đức Giê-hô-va khiến những huyết của nhà người đổ lại trên ngươi; Ngài sẽ phó nước vào tay Aùp-sa-lôm, con trai ngươi; và kìa, chính ngươi bị hoạn nạn, bởi vì ngươi là một người huyết.

:「。」

xǐ lǔ yǎ de ér zi yà bǐ shāi duì wáng shuō :「 zhè sǐ gǒu qǐ kě zhòu mà wǒ zhǔ wǒ wáng ne ? qiú nǐ róng wǒ guò qù , gē xià tā de tóu lái 。」

Bấy giờ, A-bi-sai, con trai của Xê-ru-gia, tâu với vua rằng: Cớ sao con chó chết kia dám mắng vua chúa tôi? Hãy để tôi đi chém đầu nó.

:「:『。』?」

wáng shuō :「 xǐ lǔ yǎ de ér zǐ , wǒ yǔ nǐ men yǒu hé guān shè ne ? tā zhòu mà shì yīn yē hé huá fēn fù tā shuō :『 nǐ yào zhòu mà dà wèi 。』 rú cǐ , shuí gǎn shuō nǐ wèi shén me zhè yàng xíng ne ?」

Nhưng vua đáp rằng: Hỡi các con trai Xê-ru-gia, ta có can hệ gì với các ngươi? Hãy để Si-mê-i rủa sả. Aáy là Đức Giê-hô-va đã phán cùng người rằng: Hãy rủa sả Đa-vít. Vậy ai dám nói cùng người rằng: Cớ sao ngươi làm như vậy?

:「便

dà wèi yòu duì yà bǐ shāi hé zhòng chén pú shuō :「 wǒ qīn shēng de ér zi shàng qiě xún suǒ wǒ de xìng mìng , hé kuàng zhè biàn yǎ mǐn rén ne ? yóu tā zhòu mà ba ! yīn wèi zhè shì yē hé huá fēn fù tā de 。

Đoạn, Đa-vít nói với A-bi-sai và các tôi tớ mình rằng: Kìa, con ruột ta, là kẻ do lòng ta sanh ra, còn muốn hại mạng sống ta thay; phương chi người Bên-gia-min nầy! Hãy để cho nó làm, để nó rủa sả, vì Đức Giê-hô-va đã phán dặn nó làm vậy.

。」

huò zhě yē hé huá jiàn wǒ zāo nán , wèi wǒ jīn rì bèi zhè rén zhòu mà , jiù shī ēn yǔ wǒ 。」

Có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ đoái xem sự hoạn nạn ta, lấy phước trả lại thế cho sự rủa sả mà ta bị ngày nay.

yú shì dà wèi hé gēn suí tā de rén wǎng qián xíng zǒu 。 shì měi zài dà wèi duì miàn shān pō , yí miàn xíng zǒu yí miàn zhòu mà , yòu ná shí tou kǎn tā , ná tǔ yáng tā 。

Đa-vít và các tôi tớ người cứ đi; còn Si-mê-i đi theo hông núi, đối ngang Đa-vít. Người vừa đi vừa rủa sả Đa-vít, ném đá người, và hất bụi lên.

wáng hé gēn suí tā de zhòng rén pí pí fá fá dì dào le yí gè dì fāng , jiù zài nà lǐ xiē xī xiē xī 。

Như vậy, vua và cả dân chúng theo vua đều mệt nhọc, đi đến một nơi, và nghỉ khỏe tại đó.

yā shā lóng hé yǐ sè liè zhòng rén lái dào yē lù sā lěng ; yà xī duō fú yě yǔ tā tóng lái 。

Aùp-sa-lôm và hết thảy người Y-sơ-ra-ên đều đã vào Giê-ru-sa-lem rồi, và A-hi-tô-phe theo người.

:「!」

dà wèi de péng yǒu yà jī rén hù shāi qù jiàn yā shā lóng , duì tā shuō :「 yuàn wáng wàn suì ! yuàn wáng wàn suì !」

Khi Hu-sai, người Aït-kít, bạn hữu của Đa-vít, đến bên Aùp-sa-lôm, thì nói rằng: Vua vạn tuế! vua vạn tuế!

:「?」

yā shā lóng wèn hù shāi shuō :「 zhè shì nǐ ēn dài péng yǒu ma ? wèi shén me bù yǔ nǐ de péng yǒu tóng qù ne ?」

Aùp-sa-lôm nói với Hu-sai rằng: Aáy có phải là sự nhơn từ mà người dùng đãi bạn ngươi ư? Sao ngươi không đi theo bạn ngươi?

:「

hù shāi duì yā shā lóng shuō :「 bù rán , yē hé huá hé zhè mín , bìng yǐ sè liè zhòng rén suǒ jiǎn xuǎn de , wǒ bì guī shùn tā , yǔ tā tóng zhù 。

Hu-sai đáp cùng Aùp-sa-lôm rằng: Không; tôi sẽ thuộc về ai là người được Đức Giê-hô-va lựa chọn, được dân sự nầy và cả dân Y-sơ-ra-ên lựa chọn; tôi sẽ ở cùng người đó.

。」

zài zhě , wǒ dāng fú shì shuí ne ? qǐ bú shì qián wáng de ér zi ma ? wǒ zěn yàng fú shì nǐ fù qīn , yě bì zhào yàng fú shì nǐ 。」

Vả lại, ai là người tôi sẽ phục sự? Há chẳng phải con trai của vua ư? Tôi sẽ làm tôi tớ ông như đã làm tôi tớ của thân phụ ông vậy.

:「?」

yā shā lóng duì yà xī duō fú shuō :「 nǐ men chū gè zhǔ yì , wǒ men zěn yàng xíng cái hǎo ?」

Aùp-sa-lôm bèn nói cùng A-hi-tô-phe rằng: Hai ngươi hãy mưu cùng nhau đặng định điều chúng ta phải làm.

:「殿。」

yà xī duō fú duì yā shā lóng shuō :「 nǐ fù suǒ liú xià kān shǒu gōng diàn de fēi pín , nǐ kě yǐ yǔ tā men qīn jìn 。 yǐ sè liè zhòng rén tīng jiàn nǐ fù qīn zēng wù nǐ , fán guī shùn nǐ rén de shǒu jiù gèng jiān qiáng 。」

A-hi-tô-phe đáp cùng Aùp-sa-lôm rằng: Hãy đi đến cùng các cung phi của thân phụ ông đã để lại đặng giữ đền. Khi cả Y-sơ-ra-ên hay rằng ông đã sỉ nhục thân phụ ông như vậy, thì hết thảy những người ở cùng ông lại sẽ càng mạnh mẽ hơn.

殿

yú shì rén wéi yā shā lóng zài gōng diàn de píng dǐng shàng zhī dā zhàng péng ; yā shā lóng zài yǐ sè liè zhòng rén yǎn qián , yǔ tā fù de fēi pín qīn jìn 。

Vậy, người ta che cho Aùp-sa-lôm một cái trại ở trên sân nóc đền; rồi trước mặt cả Y-sơ-ra-ên, Aùp-sa-lôm đi đến cùng các cung phi của cha mình.

nà shí yà xī duō fú suǒ chū de zhǔ yì hǎo xiàng rén wèn shén de huà yí yàng ; tā xī rì gěi dà wèi , jīn rì gěi yā shā lóng suǒ chū de zhǔ yì , dōu shì zhè yàng 。

Vả, trong lúc đó, người ta coi mưu của A-hi-tô-phe như lời phán của chính Đức Chúa Trời. Giá trị các mưu của A-hi-tô-phe, hoặc đối cùng Đa-vít, hoặc đối cùng Aùp-sa-lôm, đều là như vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.