中文圣经

II SA-MU-ÊN 15

đã biết 0/327

cǐ hòu , yā shā lóng wèi zì jǐ yù bèi chē mǎ , yòu pài wǔ shí rén zài tā qián tou bēn zǒu 。

Cách ít lâu, Aùp-sa-lôm sắm xe và ngựa với năm mươi quân chạy trước mặt mình.

:「?」:「。」

yā shā lóng cháng cháng zǎo chén qǐ lái , zhàn zài chéng mén de dào páng , fán yǒu zhēng sòng yào qù qiú wáng pàn duàn de , yā shā lóng jiù jiào tā guò lái , wèn tā shuō :「 nǐ shì nǎ yì chéng de rén ?」 huí dá shuō :「 pú rén shì yǐ sè liè mǒu zhī pài de rén 。」

Aùp-sa-lôm dậy sớm, đứng nơi mé đường vào cửa thành. Nếu gặp ai có sự kiện thưa chi đi đến vua đặng cầu xét đoán, thì Aùp-sa-lôm gọi người ấy hỏi rằng: Người ở thành nào? Nếu họ đáp: Tôi tớ ông thuộc về chi phái kia của Y-sơ-ra-ên,

:「。」

yā shā lóng duì tā shuō :「 nǐ de shì yǒu qíng yǒu lǐ , wú nài wáng méi yǒu wěi rén tīng nǐ shēn sù 。」

thì Aùp-sa-lôm tiếp rằng: Sự tình của ngươi thật phải và công bình; nhưng nơi đền vua nào có ai để nghe ngươi đâu.

:「。」

yā shā lóng yòu shuō :「 hèn bù dé wǒ zuò guó zhōng de shì shī ! fán yǒu zhēng sòng qiú shěn pàn de dào wǒ zhè lǐ lái , wǒ bì bǐng gōng pàn duàn 。」

Đoạn, Aùp-sa-lôm tiếp rằng: è! chớ chi người ta lập ta làm quan xét trong xứ! Phàm người nào có việc tranh tụng hay kiện cáo gì cần đoán xét, sẽ đến ta, thì ta sẽ xử đoán công bình cho họ.

ruò yǒu rén jìn qián lái yào bài yā shā lóng , yā shā lóng jiù shēn shǒu lā zhù tā , yǔ tā qīn zuǐ 。

Nếu có ai đến gần đặng lạy người, Aùp-sa-lôm giơ tay ra đỡ lấy người và hôn.

yǐ sè liè rén zhōng , fán qù jiàn wáng qiú pàn duàn de , yā shā lóng dōu shì rú cǐ dài tā men 。 zhè yàng , yā shā lóng àn zhōng dé le yǐ sè liè rén de xīn 。

Aùp-sa-lôm làm như vậy đối cùng hết thảy những người Y-sơ-ra-ên đi đến tìm vua, đặng cầu đoán xét; và Aùp-sa-lôm dụ lấy lòng người Y-sơ-ra-ên vậy.

:「

mǎn le sì shí nián , yā shā lóng duì wáng shuō :「 qiú nǐ zhǔn wǒ wǎng xī bó qù , hái wǒ xiàng yē hé huá suǒ xǔ de yuàn 。

Cuối bốn năm, Aùp-sa-lôm nói cùng vua rằng: Xin cho phép con đi đến Hếp-rôn đặng trả xong sự hứa nguyện mà tôi đã khấn với Đức Giê-hô-va.

:『使。』」

yīn wèi pú rén zhù zài yà lán de jī shù , céng xǔ yuàn shuō :『 yē hé huá ruò shǐ wǒ zài huí yē lù sā lěng , wǒ bì shì fèng tā 。』」

Vì lúc tôi tớ vua ở tại Ghê-su-rơ trong Sy-ri, có khấn lời nguyện nầy: Nếu Đức Giê-hô-va dẫn tôi về Giê-ru-sa-lem, thì tôi sẽ thờ phượng Đức Giê-hô-va.

:「!」

wáng shuō :「 nǐ píng píng ān ān dì qù ba !」 yā shā lóng jiù qǐ shēn , wǎng xī bó qù le 。

Vua đáp cùng người rằng: Hãy đi bình an. Vậy người chổi dậy, và đi đến Hếp-rôn.

:「:『 !』」

yā shā lóng dǎ fā tàn zǐ zǒu biàn yǐ sè liè gè zhī pài , shuō :「 nǐ men yì tīng jiàn jiǎo shēng jiù shuō :『 yā shā lóng zài xī bó zuò wáng le !』」

Aùp-sa-lôm sai những kẻ do thám rao lịnh nầy khắp trong các chi phái Y-sơ-ra-ên rằng: Thoạt khi anh em nghe tiếng kèn, thì hãy nói: Aùp-sa-lôm làm vua tại Hếp-rôn!

yā shā lóng zài yē lù sā lěng qǐng le èr bǎi rén yǔ tā tóng qù , dōu shì chéng chéng shí shí qù de , bìng bù zhī dào qí zhōng de zhēn qíng 。

Có hai trăm người ở Giê-ru-sa-lem mà Aùp-sa-lôm đã mời, đều đi với người cách thật thà chẳng nghi ngại chi hết.

yā shā lóng xiàn jì de shí hòu , dǎ fā rén qù jiāng dà wèi de móu shì 、 jī luó rén yà xī duō fú cóng tā běn chéng qǐng le lái 。 yú shì pàn nì de shì pài shèn dà ; yīn wèi suí cóng yā shā lóng de rén mín , rì jiàn zēng duō 。

Đang lúc Aùp-sa-lôm dâng của lễ, bèn sai mời A-hi-tô-phe, là mưu sĩ của Đa-vít ở Ghi-lô, bổn thành người. Sự phản nghịch trở nên mạnh, và đoàn dân đi theo Aùp-sa-lôm càng ngày càng đông.

:「!」

yǒu rén bào gào dà wèi shuō :「 yǐ sè liè rén de xīn dōu guī xiàng yā shā lóng le !」

Có người đến báo tin cho Đa-vít rằng: Lòng của dân Y-sơ-ra-ên nghiêng về Aùp-sa-lôm.

:「。」

dà wèi jiù duì yē lù sā lěng gēn suí tā de chén pú shuō :「 wǒ men yào qǐ lái táo zǒu , bù rán dōu bù néng duǒ bì yā shā lóng le ; yào sù sù dì qù , kǒng pà tā hū rán lái dào , jiā hài yú wǒ men , yòng dāo shā jìn hé chéng de rén 。」

Đa-vít bèn nói cùng các tôi tớ ở với mình tại Giê-ru-sa-lem rằng: Hãy chổi dậy và chạy trốn đi, bằng chẳng, chúng ta không thế thoát khỏi Aùp-sa-lôm được. Hãy đi mau mau, e nó sẽ đến kịp chúng ta, làm hại cho chúng ta, và dùng gươm diệt thành.

:「。」

wáng de chén pú duì wáng shuō :「 wǒ zhǔ wǒ wáng suǒ dìng de , pú rén dōu yuàn zūn xíng 。」

Các tôi tớ của vua thưa rằng: Phàm việc gì vua chúa chúng tôi nhất định, thì các tôi tớ vua sẽ sẵn làm theo.

殿

yú shì wáng dài zhe quán jiā de rén chū qù le , dàn liú xià shí gè fēi pín kān shǒu gōng diàn 。

Vậy, vua ra đi, có cả nhà người cùng theo; nhưng vua để lại mười người cung phi đặng giữ đền.

·

wáng chū qù , zhòng mín dōu gēn suí tā , dào bó · mò hā , jiù zhù xià le 。

Thế thì, vua đi ra, có cả dân sự theo sau; chúng dừng lại tại nhà ở cuối chót thành.

wáng de chén pú dōu zài tā miàn qián guò qù 。 jī lì tí rén 、 bǐ lì tí rén , jiù shì cóng jiā tè gēn suí wáng lái de liù bǎi rén , yě dōu zài tā miàn qián guò qù 。

Hết thảy tôi tớ của vua và cả người Kê-rê-thít, người Phê-lê-thít đều đi ở bên vua, còn người Ghi-tít, số sáu trăm người ở Gát đến theo vua, đều đi đàng trước.

:「

wáng duì jiā tè rén yǐ tài shuō :「 nǐ shì wài bāng táo lái de rén , wèi shén me yǔ wǒ men tóng qù ne ? nǐ kě yǐ huí qù yǔ xīn wáng tóng zhù , huò zhě huí nǐ běn dì qù ba !

Vua bèn nói cùng Y-tai, người Ghi-tít rằng: Cớ sao ngươi cũng muốn đến cùng chúng ta? Hãy trở lại, ở với vua, bởi vì ngươi là một người ngoại bang đã lìa xứ của ngươi.

。」

nǐ lái de rì zi bù duō , wǒ jīn rì zěn hǎo jiào nǐ yǔ wǒ men yì tóng piāo liú 、 méi yǒu yí dìng de zhù chù ne ? nǐ bù rú dài nǐ de dì xiong huí qù ba ! yuàn yē hé huá yòng cí ài chéng shí dài nǐ 。」

Ngươi mới đến hôm qua, và hôm nay ta há sẽ cho ngươi lạc lài đây đó với chúng ta sao? Còn ta, ta đi đâu không rõ. Vậy, hãy trở về và dẫn các anh em ngươi theo ngươi. Nguyện sự thương xót và sự thành tín ở cùng ngươi!

:「。」

yǐ tài duì wáng shuō :「 wǒ zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì , yòu gǎn zài wáng miàn qián qǐ shì : wú lùn shēng sǐ , wáng zài nǎ lǐ , pú rén yě bì zài nà lǐ 。」

Nhưng Y-tai thưa cùng vua rằng: Tôi chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống, và chỉ mạng sống của vua chúa tôi mà thề, hễ vua chúa tôi ở đâu, hoặc trong sự chết, hoặc trong sự sống, thì kẻ tôi tớ vua cũng sẽ ở đó.

:「!」

dà wèi duì yǐ tài shuō :「 nǐ qián qù guò hé ba !」 yú shì jiā tè rén yǐ tài dài zhe gēn suí tā de rén hé suǒ yǒu de fù rén hái zi , jiù dōu guò qù le 。

Vua Đa-vít bèn nói với Y-tai rằng: Vậy, hãy đến đi trước. Thế thì, Y-tai người Ghi-tít cùng hết thảy con trẻ theo mình, và cả bọn người đều đi tới trước.

běn dì de rén dōu fàng shēng dà kū 。 zhòng mín jìn dōu guò qù , wáng yě guò le jí lún xī ; zhòng mín wǎng kuàng yě qù le 。

Hết thảy dân trong xứ đều khóc và la lớn tiếng lên trong khi cả đám đông nầy đi qua. Vua qua khe Xết-rôn, và cả dân sự đều xơm tới trên con đường về đồng vắng.

sā dū hé tái shén yuē guì de lì wèi rén yě yì tóng lái le , jiāng shén de yuē guì fàng xià 。 yà bǐ yà tā shàng lái , děng zhe zhòng mín cóng chéng lǐ chū lái guò qù 。

ỳ đó cũng có Xa-đốc và hết thảy người Lê-vi khiêng hòm giao ước của Đức Chúa Trời. Họ để hòm của Đức Chúa Trời xuống đất, rồi A-bia-tha đi lên trước cho đến khi hết thảy dân sự đã ra khỏi thành xuống rồi.

:「 使

wáng duì sā dū shuō :「 nǐ jiāng shén de yuē guì tái huí chéng qù 。 wǒ ruò zài yē hé huá yǎn qián méng ēn , tā bì shǐ wǒ huí lái , zài jiàn yuē guì hé tā de jū suǒ 。

Vua bèn nói cùng Xa-đốc rằng: Hãy thỉnh hòm của Đức Chúa Trời vào trong thành. Nếu ta được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va, ắt Ngài sẽ đem ta về, cho ta thấy lại hòm giao ước và nơi ngự của Ngài.

:『』,!」

tǎng ruò tā shuō :『 wǒ bù xǐ yuè nǐ 』, kàn nǎ , wǒ zài zhè lǐ , yuàn tā píng zì jǐ de yì zhǐ dài wǒ !」

Nhưng nếu Ngài phán như vầy: Ta không ưa thích ngươi; thế thì, nguyện Ngài xử ta theo ý Ngài lấy làm tốt!

:「

wáng yòu duì jì sī sā dū shuō :「 nǐ bú shì xiān jiàn ma ? nǐ kě yǐ ān rán huí chéng ; nǐ ér zi yà xī mǎ sī hé yà bǐ yà tā de ér zi yuē ná dān dōu kě yǐ yǔ nǐ tóng qù 。

Vua lại nói cùng thầy tế lễ Xa-đốc rằng: Nầy nghe, hãy trở về thành bình an, với A-bia-tha, A-hi-mát, và Giô-na-than, là hai con trai ngươi.

。」

wǒ zài kuàng yě de dù kǒu nà lǐ děng nǐ men bào xìn gěi wǒ 。」

Còn ta, ta sẽ đợi tại trong đồng bằng của sa mạc cho đến khi có kẻ bởi các ngươi đem tin báo cho ta.

yú shì sā dū hé yà bǐ yà tā jiāng shén de yuē guì tái huí yē lù sā lěng , tā men jiù zhù zài nà lǐ 。

Aáy vậy, Xa-đốc và A-bia-tha thỉnh hòm của Đức Chúa Trời về Giê-ru-sa-lem, và họ ở lại tại đó.

dà wèi méng tóu chì jiǎo shàng gǎn lǎn shān , yí miàn shàng yí miàn kū 。 gēn suí tā de rén yě dōu méng tóu kū zhe shàng qù ;

Đa-vít trèo lên núi Ô-li-ve; người vừa leo lên vừa khóc, đầu trùm lại và chân không. Hết thảy người đi theo cũng trùm đầu, vừa trèo lên vừa khóc.

:「。」:「使!」

yǒu rén gào sù dà wèi shuō :「 yà xī duō fú yě zài pàn dǎng zhī zhōng , suí cóng yā shā lóng 。」 dà wèi dǎo gào shuō :「 yē hé huá a , qiú nǐ shǐ yà xī duō fú de jì móu biàn wèi yú zhuō !」

Người ta bèn đến nói cùng Đa-vít rằng: A-hi-tô-phe cũng hiệp đảng phản nghịch với Aùp-sa-lôm. Đa-vít cầu rằng: Oâi, Đức Giê-hô-va! xin làm cho những mưu chước của A-hi-tô-phe ra ngu dại.

dà wèi dào le shān dǐng 、 jìng bài shén de dì fāng , jiàn yà jī rén hù shāi , yī fu sī liè , tóu méng huī chén lái yíng jiē tā 。

Khi Đa-vít đã đi đến chót núi, tại nơi người ta thờ lạy Đức Chúa Trời, thì Hu-sai, người Aït-kít, đến đón người, áo xé rách và đầu đầy bụi đất.

:「

dà wèi duì tā shuō :「 nǐ ruò yǔ wǒ tóng qù , bì léi zhui wǒ ;

Đa-vít nói cùng người rằng: Nếu ngươi đến cùng ta, tất ngươi sẽ làm khó nhọc cho ta.

:『。』

nǐ ruò huí chéng qù , duì yā shā lóng shuō :『 wáng a , wǒ yuàn zuò nǐ de pú rén ; wǒ xiàng lái zuò nǐ fù qīn de pú rén , xiàn zài wǒ yě zhào yàng zuò nǐ de pú rén 。』 zhè yàng , nǐ jiù kě yǐ wéi wǒ pò huài yà xī duō fú de jì móu 。

Nhưng nếu ngươi trở về thành, và nói cùng Aùp-sa-lôm rằng: Oâi vua! tôi là kẻ tôi tớ vua. Thuở trước tôi đã phục sự vua cha thể nào, bây giờ tôi sẽ phục sự vua thể ấy, vậy ngươi sẽ vì ta làm bại mưu chước của A-hi-tô-phe.

jì sī sā dū hé yà bǐ yà tā qǐ bù dōu zài nà lǐ ma ? nǐ zài wáng gōng lǐ tīng jiàn shén me , jiù yào gào sù jì sī sā dū hé yà bǐ yà tā 。

Hai thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha sẽ đồng cùng ngươi. Phàm việc chi ngươi hay được về nhà vua, ngươi phải thuật cho hai thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha biết.

。」

sā dū de ér zi yà xī mǎ sī , yà bǐ yà tā de ér zi yuē ná dān , yě dōu zài nà lǐ 。 fán nǐ men suǒ tīng jiàn de kě yǐ tuō zhè èr rén lái bào gào wǒ 。」

Hai người có hai đứa con trai theo mình, là A-hi-mát, con trai của Xa-đốc, và Giô-na-than, con trai của A-bia-tha; các ngươi phải dùng chúng nó để báo tin cho ta mọi điều mình sẽ nghe thấy.

yú shì , dà wèi de péng yǒu hù shāi jìn le chéng ; yā shā lóng yě jìn le yē lù sā lěng 。

Vậy, Hu-sai, bạn hữu của Đa-vít, trở về thành đang khi Aùp-sa-lôm vào trong Giê-ru-sa-lem.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.