中文圣经

SÁNG THẾ 11

đã biết 0/169

nà shí , tiān xià rén de kǒu yīn 、 yán yǔ dōu shì yí yàng 。

Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng.

tā men wǎng dōng biān qiān yí de shí hòu , zài shì ná dì yù jiàn yí piàn píng yuán , jiù zhù zài nà lǐ 。

Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Si-nê-a, rồi ở tại đó.

:「。」

tā men bǐ cǐ shāng liáng shuō :「 lái ba ! wǒ men yào zuò zhuān , bǎ zhuān shāo tòu le 。」 tā men jiù ná zhuān dāng shí tou , yòu ná shí qī dāng huī ní 。

Người nầy nói với người kia rằng: Hè! chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa. Lúc đó, gạch thế cho đá, còn chai thế cho hồ.

:「。」

tā men shuō :「 lái ba ! wǒ men yào jiàn zào yí zuò chéng hé yí zuò tǎ , tǎ dǐng tōng tiān , wèi yào chuán yáng wǒ men de míng , miǎn de wǒ men fēn sàn zài quán dì shàng 。」

Lại nói rằng: Nào! chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất.

yē hé huá jiàng lín , yào kàn kàn shì rén suǒ jiàn zào de chéng hé tǎ 。

Đức Giê-hô-va bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên.

:「

yē hé huá shuō :「 kàn nǎ , tā men chéng wéi yí yàng de rén mín , dōu shì yí yàng de yán yǔ , rú jīn jì zuò qǐ zhè shì lái , yǐ hòu tā men suǒ yào zuò de shì jiù méi yǒu bù chéng jiù de le 。

Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc chúng nó đang khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được.

使。」

wǒ men xià qù , zài nà lǐ biàn luàn tā men de kǒu yīn , shǐ tā men de yán yǔ bǐ cǐ bù tōng 。」

Thôi! chúng ta, hãy xuống, làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người nầy với người kia.

使

yú shì yē hé huá shǐ tā men cóng nà lǐ fēn sàn zài quán dì shàng ; tā men jiù tíng gōng , bú zào nà chéng le 。

Rồi, từ đó Đức Giê-hô-va làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành.

使

yīn wèi yē hé huá zài nà lǐ biàn luàn tiān xià rén de yán yǔ , shǐ zhòng rén fēn sàn zài quán dì shàng , suǒ yǐ nà chéng míng jiào bā bié 。

Bởi cớ đó đặt tên thành là Ba-bên, vì nơi đó Đức Giê-hô-va làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.

shǎn de hòu dài jì zài xià miàn 。 hóng shuǐ yǐ hòu èr nián , shǎn yì bǎi suì shēng le yà fǎ sā 。

Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sanh A-bác-sát.

shǎn shēng yà fǎ sā zhī hòu yòu huó le wǔ bǎi nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Sem sanh A-bác-sát rồi, còn sống được năm trăm năm, sanh con trai con gái.

yà fǎ sā huó dào sān shí wǔ suì , shēng le shā lā 。

A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sanh Sê-lách.

yà fǎ sā shēng shā lā zhī hòu yòu huó le sì bǎi líng sān nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi A-bác-sát sanh Sê-lách rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.

shā lā huó dào sān shí suì , shēng le xī bó 。

Sê-lách được ba mươi tuổi, sanh Hê-be.

shā lā shēng xī bó zhī hòu yòu huó le sì bǎi líng sān nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Sê-lách sanh Hê-be rồi, còn sống được bốn trăm ba năm, sanh con trai con gái.

xī bó huó dào sān shí sì suì , shēng le fǎ lè 。

Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sanh Bê-léc.

xī bó shēng fǎ lè zhī hòu yòu huó le sì bǎi sān shí nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Hê-be sanh Bê-léc rồi, còn sống được bốn trăm ba mươi năm, sanh con trai con gái.

fǎ lè huó dào sān shí suì , shēng le lā wú 。

Bê-léc được ba mươi tuổi, sanh Rê-hu

fǎ lè shēng lā wú zhī hòu yòu huó le èr bǎi líng jiǔ nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Bê-léc sanh Rê-hu rồi, còn sống được hai trăm chín năm, sanh con trai con gái.

西鹿

lā wú huó dào sān shí èr suì , shēng le xī lù 。

Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sanh Sê-rúc.

西鹿

lā wú shēng xī lù zhī hòu yòu huó le èr bǎi líng qī nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Rê-hu sanh Sê-rúc rồi, còn sống được hai trăm bảy năm, sanh con trai con gái.

西鹿

xī lù huó dào sān shí suì , shēng le ná hè 。

Sê-rúc được ba mươi tuổi, sanh Na-cô.

西鹿

xī lù shēng ná hè zhī hòu yòu huó le èr bǎi nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Sê-rúc sanh Na-cô rồi, còn sống được hai trăm năm, sanh con trai con gái.

ná hè huó dào èr shí jiǔ suì , shēng le tā lā 。

Na-cô được hai mươi chín tuổi, sanh Tha-rê.

ná hè shēng tā lā zhī hòu yòu huó le yì bǎi yī shí jiǔ nián , bìng qiě shēng ér yǎng nǚ 。

Sau khi Na-cô sanh Tha-rê rồi, còn sống được một trăm mười chín năm, sanh con trai con gái.

tā lā huó dào qī shí suì , shēng le yà bó lán 、 ná hè 、 hā lán 。

Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran.

tā lā de hòu dài jì zài xià miàn 。 tā lā shēng yà bó lán 、 ná hè 、 hā lán ; hā lán shēng luó dé 。

Đây là dòng dõi của Tha-rê: Tha-rê sanh Aùp-ram, Na-cô và Ha-ran; Ha-ran sanh Lót.

hā lán sǐ zài tā de běn dì jiā lè dǐ de wú ěr , zài tā fù qīn tā lā zhī xiān 。

Ha-ran qua đời tại quê hương mình, tức là U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, khi cha người là Tha-rê hãy còn sống.

yà bó lán 、 ná hè gè qǔ le qī : yà bó lán de qī zǐ míng jiào sā lái ; ná hè de qī zǐ míng jiào mì jiā , shì hā lán de nǚ ér ; hā lán shì mì jiā hé yì jiā de fù qīn 。

Aùp-ram và Na-cô cưới vợ; vợ Aùp-ram tên là Sa-rai, còn vợ Na-cô tên là Minh-ca; Minh-ca và Dích-ca tức là con gái của Ha-ran.

sā lái bù shēng yù , méi yǒu hái zi 。

Vả, Sa-rai son sẻ, nên người không có con.

tā lā dài zhe tā ér zi yà bó lán hé tā sūn zi hā lán de ér zi luó dé , bìng tā ér fù yà bó lán de qī zǐ sā lái , chū le jiā lè dǐ de wú ěr , yào wǎng jiā nán dì qù ; tā men zǒu dào hā lán , jiù zhù zài nà lǐ 。

Tha-rê dẫn Aùp-ram, con trai mình, Lót, con trai Ha-ran, cháu mình, và Sa-rai, vợ Aùp-ram, tức dâu mình, đồng ra khỏi U-rơ, thuộc về xứ Canh-đê, đặng qua xứ Ca-na-an. Khi đến Cha-ran thì lập gia cư tại đó.

tā lā gòng huó le èr bǎi líng wǔ suì , jiù sǐ zài hā lán 。

Tha-rê hưởng thọ được hai trăm năm tuổi, rồi qua đời tại Cha-ran.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.