中文圣经

SÁNG THẾ 37

đã biết 0/291

yǎ gè zhù zài jiā nán dì , jiù shì tā fù qīn jì jū de dì 。

Gia-cốp, tại xứ của cha mình đã kiều ngụ, là xứ Ca-na-an.

yǎ gè de jì lüè rú xià 。 yuē sè shí qī suì yǔ tā gē ge men yì tóng mù yáng 。 tā shì gè tóng zǐ , yǔ tā fù qīn de qiè pì lā 、 xī pà de ér zǐ men cháng zài yí chù 。 yuē sè jiāng tā gē ge men de è xíng bào gěi tā men de fù qīn 。

Đây là chuyện dòng dõi của Gia-cốp. Giô-sép, tuổi mười bảy, chăn chiên với các anh mình; người đi kết bạn cùng con của Bi-la và con của Xinh-ba, hai vợ cha mình. Giô-sép thuật lại với cha các chuyện xấu của họ nói.

yǐ sè liè yuán lái ài yuē sè guò yú ài tā de zhòng zǐ , yīn wèi yuē sè shì tā nián lǎo shēng de ; tā gěi yuē sè zuò le yí jiàn cǎi yī 。

Vả, Y-sơ-ra-ên thương yêu Giô-sép hơn những con trai khác, vì là con muộn mình, nên may cho chàng một cái áo dài có nhiều sắc.

yuē sè de gē ge men jiàn fù qīn ài yuē sè guò yú ài tā men , jiù hèn yuē sè , bù yǔ tā shuō hé mù de huà 。

Các anh thấy cha thương Giô-sép hơn bọn mình, bèn sanh lòng ganh ghét, chẳng có thế lấy lời tử tế nói cùng chàng được.

yuē sè zuò le yí mèng , gào sù tā gē ge men , tā men jiù yuè fā hèn tā 。

Giô-sép có nằm chiêm bao, thuật lại cho các anh mình nghe; họ càng thêm ganh ghét nữa.

:「

yuē sè duì tā men shuō :「 qǐng tīng wǒ suǒ zuò de mèng :

Người nói rằng: Tôi có điềm chiêm bao, xin các anh hãy nghe tôi thuật:

。」

wǒ men zài tián lǐ kǔn hé jià , wǒ de kǔn qǐ lái zhàn zhe , nǐ men de kǔn lái wéi zhe wǒ de kǔn xià bài 。」

Chúng ta đang ở ngoài đồng bó lúa, nầy bó lúa tôi đứng dựng lên, còn bó lúa của các anh đều đến ở chung quanh, sấp mình xuống trước bó lúa tôi.

:「?」

tā de gē gē men huí dá shuō :「 nán dào nǐ zhēn yào zuò wǒ men de wáng ma ? nán dào nǐ zhēn yào guǎn xiá wǒ men ma ?」 tā men jiù yīn wèi tā de mèng hé tā de huà yuè fā hèn tā 。

Các anh người bèn đáp rằng: Vậy, mầy sẽ cai trị chúng ta sao? mầy sẽ hành-quyền trên chúng ta sao? Họ càng ganh ghét hơn nữa, vì điềm chiêm bao và lời nói của chàng.

:「。」

hòu lái tā yòu zuò le yí mèng , yě gào sù tā de gē ge men shuō :「 kàn nǎ , wǒ yòu zuò le yí mèng , mèng jiàn tài yáng 、 yuè liàng , yǔ shí yī gè xīng xiàng wǒ xià bài 。」

Giô-sép lại nằm chiêm bao nữa, thuật cùng các anh mình rằng: Tôi còn một điềm chiêm bao nữa: Nầy mặt trời, mặt trăng, và mười một ngôi sao đều sấp mình xuống trước mặt tôi!

:「?」

yuē sè jiāng zhè mèng gào sù tā fù qīn hé tā gē gē men , tā fù qīn jiù zé bèi tā shuō :「 nǐ zuò de zhè shì shén me mèng ! nán dào wǒ hé nǐ mǔ qīn 、 nǐ dì xiong guǒ rán yào lái fǔ fú zài dì , xiàng nǐ xià bài ma ?」

Chàng thuật chiêm bao đó lại cho cha và các anh mình nghe; nhưng cha chàng quở mà hỏi rằng: Điềm chiêm bao của mầy đó có nghĩa chi? Có phải tao, mẹ, và các anh mầy đều phải đến sấp mình xuống đất trước mặt mầy chăng?

tā gē ge men dōu jí dù tā , tā fù qīn què bǎ zhè huà cún zài xīn lǐ 。

Các anh lấy làm ganh ghét chàng; còn cha lại ghi nhớ lấy điều đó.

yuē sè de gē ge men wǎng shì jiàn qù fàng tā men fù qīn de yáng 。

Các anh chàng đi chăn chiên của cha tại Si-chem.

:「。」:「。」

yǐ sè liè duì yuē sè shuō :「 nǐ gē ge men bú shì zài shì jiàn fàng yáng ma ? nǐ lái , wǒ yào dǎ fā nǐ wǎng tā men nà lǐ qù 。」 yuē sè shuō :「 wǒ zài zhè lǐ 。」

Y-sơ-ra-ên nói cùng Giô-sép rằng: Các anh con có chăn bầy chiên tại Si-chem chăng? Lại đây, đặng cha sai con đi đến chúng nó. Giô-sép đáp rằng: Có con đây.

:「」;

yǐ sè liè shuō :「 nǐ qù kàn kàn nǐ gē ge men píng ān bù píng ān , qún yáng píng ān bù píng ān , jiù huí lái bào xìn gěi wǒ 」; yú shì dǎ fā tā chū xī bó gǔ , tā jiù wǎng shì jiàn qù le 。

Y-sơ-ra-ên biểu rằng: Con hãy đi, xem thử các anh con ra sao, và các bầy chiên thể nào; rồi đem tin về cho cha hay. Vậy, từ trũng Hếp-rôn, người sai Giô-sép đi đến Si-chem.

:「?」

yǒu rén yù jiàn tā zài tián yě zǒu mí le lù , jiù wèn tā shuō :「 nǐ zhǎo shén me ?」

Có một người gặp chàng đi lạc trong đồng ruộng, liền hỏi và nói cùng chàng rằng: Ngươi tìm chi?

:「。」

tā shuō :「 wǒ zhǎo wǒ de gē ge men , qiú nǐ gào sù wǒ , tā men zài hé chù fàng yáng 。」

Đáp rằng: Tôi tìm các anh tôi. Xin hãy chỉ giùm tôi họ chăn bầy chiên nơi nào.

:「。」

nà rén shuō :「 tā men yǐ jīng zǒu le , wǒ tīng jiàn tā men shuō yào wǎng duō tān qù 。」 yuē sè jiù qù zhuī gǎn tā gē ge men , yù jiàn tā men zài duō tān 。

Người nói: Các anh ngươi ở đây đi rồi, vì tôi có nghe họ nói rằng: Ta hãy đi đến Đô-ta-in. Vậy, Giô-sép, đi tìm các anh mình, gặp được tại Đô-ta-in.

tā men yuǎn yuǎn dì kàn jiàn tā , chèn tā hái méi yǒu zǒu dào gēn qián , dà jiā jiù tóng móu yào hài sǐ tā ,

Các anh thấy chàng đi ở đàng xa, chưa đến gần, thì đã lập mưu để giết chàng.

:「

bǐ cǐ shuō :「 nǐ kàn ! nà zuò mèng de lái le 。

Chúng bèn nói nhau rằng: Kìa, thằng nằm mộng đến kia!

。」

lái ba ! wǒ men jiāng tā shā le , diū zài yí gè kēng lǐ , jiù shuō yǒu è shòu bǎ tā chī le 。 wǒ men qiě kàn tā de mèng jiāng lái zěn me yàng 。」

Bây giờ, nào! chúng ta hãy giết nó đi, quăng xuống một cái hố nước nào đó; đoạn ta sẽ nói rằng nó đã bị thú rừng xé ăn, rồi sẽ xem các điềm chiêm bao của nó ra sao.

便:「」;

lǚ biàn tīng jiàn le , yào jiù tā tuō lí tā men de shǒu , shuō :「 wǒ men bù kě hài tā de xìng mìng 」;

Ru-bên nghe qua lời đó, liền giải cứu chàng ra khỏi tay các anh mà rằng: Chúng ta đừng giết chết nó;

:「。」便

yòu shuō :「 bù kě liú tā de xuè , kě yǐ bǎ tā diū zài zhè yě dì de kēng lǐ , bù kě xià shǒu hài tā 。」 lǚ biàn de yì sī shì yào jiù tā tuō lí tā men de shǒu , bǎ tā guī huán tā de fù qīn 。

lại tiếp: Chúng ta chớ nên làm đổ máu ra; hãy liệng nó trong cái hố nước nơi đồng vắng kia, và đừng tra tay vào mình nó. Người nói vậy, có ý muốn giải cứu chàng khỏi tay họ, để trả chàng về cùng cha mình.

穿

yuē sè dào le tā gē gē men nà lǐ , tā men jiù bāo le tā de wài yī , jiù shì tā chuān de nà jiàn cǎi yī ,

Vừa khi Giô-sép đến gần các anh, họ bèn lột áo chàng, là áo có nhiều sắc đang mặc trong mình;

bǎ tā diū zài kēng lǐ ; nà kēng shì kōng de , lǐ tou méi yǒu shuǐ 。

rồi, bắt chàng đem quăng trong hố nước. Vả, hố khô cạn, chẳng có nước.

tā men zuò xià chī fàn , jǔ mù guān kàn , jiàn yǒu yì huǒ mǐ diàn de yǐ shí mǎ lì rén cóng jī liè lái , yòng luò tuó tuó zhe xiāng liào 、 rǔ xiāng 、 mò yào , yào dài xià āi jí qù 。

Đoạn, họ ngồi lại ăn. Nhướng mắt lên chợt thấy một đoàn dân ỗch-ma-ên ở phía Ga-la-át đi đến, trên lưng lạc đà họ chở đầy thuốc thơm, nhũ hương và một dược đang đem đi đến xứ Ê-díp-tô.

:「

yóu dà duì zhòng dì xiōng shuō :「 wǒ men shā wǒ men de xiōng dì , cáng le tā de xuè yǒu shén me yì chù ne ?

Giu-đa bèn nói cùng các anh em rằng: Giết em ta mà giấu máu nó, có dùng cho ta được việc chi?

。」

wǒ men bù rú jiāng tā mài gěi yǐ shí mǎ lì rén , bù kě xià shǒu hài tā ; yīn wèi tā shì wǒ men de xiōng dì , wǒ men de gǔ ròu 。」 zhòng dì xiong jiù tīng cóng le tā 。

Hè! hãy đem bán nó cho dân ỗch-ma-ên và đừng tra tay vào mình nó; vì nó là em, là cốt nhục của chúng ta. Các anh em đều nghe theo lời người nói.

yǒu xiē mǐ diàn de shāng rén cóng nà lǐ jīng guò , gē ge men jiù bǎ yuē sè cóng kēng lǐ lā shàng lái , jiǎng dìng èr shí shè kè lè yín zi , bǎ yuē sè mài gěi yǐ shí mǎ lì rén 。 tā men jiù bǎ yuē sè dài dào āi jí qù le 。

Vả, khi những lái-buôn Ma-đi-an đi ngang qua, các anh kéo Giô-sép lên khỏi hố nước, rồi bán chàng giá hai mươi miếng bạc cho dân ỗch-ma-ên đem qua xứ Ê-díp-tô.

便

lǚ biàn huí dào kēng biān , jiàn yuē sè bú zài kēng lǐ , jiù sī liè yī fu ,

Ru-bên trở lại hố; nầy Giô-sép đâu mất rồi; bèn xé áo mình,

:「?」

huí dào xiōng dì men nà lǐ , shuō :「 tóng zǐ méi yǒu le 。 wǒ wǎng nǎ lǐ qù cái hǎo ne ?」

trở lại nơi các em mình mà rằng: Oâi! đứa trẻ đâu mất rồi! còn tôi, sẽ đi đâu.

tā men zǎi le yì zhī gōng shān yáng , bǎ yuē sè de nà jiàn cǎi yī rǎn le xuè ,

Các anh giết một con dê đực, rồi lấy áo Giô-sép nhúng vào trong máu;

:「?」

dǎ fā rén sòng dào tā men de fù qīn nà lǐ , shuō :「 wǒ men jiǎn le zhè ge ; qǐng rèn yi rèn shì nǐ ér zi de wài yī bú shì ?」

đoạn, gởi cái áo nhiều sắc đó đem về cho cha mình và dặn nói rằng: Đây là vật chúng tôi đã kiếm được. Vậy, xin hãy nhìn coi, có phải áo của con trai cha chăng.

:「!」

tā rèn de , jiù shuō :「 zhè shì wǒ ér zǐ de wài yī 。 yǒu è shòu bǎ tā chī le , yuē sè bèi sī suì le ! sī suì le !」

Gia-cốp nhìn và nói rằng: Aáy là áo của con trai ta đó; một thú dữ đã xé cấu nó! Quả thật Giô-sép đã bị phân thây rồi!

便

yǎ gè biàn sī liè yī fu , yāo jiān wéi shàng má bù , wèi tā ér zi bēi āi le duō rì 。

Người xé quần áo mình ra, lấy bao quấn ngang hông, và để tang lâu ngày cho con trai mình.

:「。」

tā de ér nǚ dōu qǐ lái ān wèi tā , tā què bù kěn shòu ān wèi , shuō :「 wǒ bì bēi āi zhe xià yīn jiān , dào wǒ ér zi nà lǐ 。」 yuē sè de fù qīn jiù wèi tā āi kū 。

Hết thảy con trai, con gái hiệp lại an ủi người, nhưng không chịu; bèn nói rằng: Ta để tang luôn xuống chốn âm phủ cùng con ta! Aáy đó, cha Giô-sép khóc than chàng như vậy.

mǐ diàn rén dài yuē sè dào āi jí , bǎ tā mài gěi fǎ lǎo de nèi chén — hù wèi cháng bō tí fá 。

Các lái buôn Ma-đi-an đem Giô-sép đến xứ Ê-díp-tô, bán cho Phô-ti-pha, quan thị vệ của Pha-ra-ôn.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.