中文圣经

Ê-SAI 21

đã biết 0/211

lùn hǎi páng kuàng yě de mò shì : yǒu chóu dí cóng kuàng yě , cóng kě pà zhī dì ér lái , hǎo xiàng nán fāng de xuán fēng , měng rán sǎo guò 。

Gánh nặng về đồng vắng ở gần biển. Nó đến từ đồng vắng, là đất đáng kinh khiếp, khác nào cơn gió lốc vụt qua trong phương nam.

使

lìng rén qī cǎn de yì xiàng yǐ mò shì yú wǒ 。 guǐ zhà de xíng guǐ zhà , huǐ miè de xíng huǐ miè 。 yǐ lán nǎ , nǐ yào shàng qù ! mǐ dǐ yà a , nǐ yào wéi kùn ! zhǔ shuō : wǒ shǐ yí qiè tàn xī zhǐ zhù 。

Có sự hiện thấy hãi hùng đã tỏ ra cho tôi: kẻ gian dối ở gian dối, kẻ tàn hại làm tàn hại! Hỡi người Ê-lam, hãy lên; Hỡi người Mê-đi, hãy vây đi! Ta sẽ làm cho dứt mọi tiếng than thở nó.

suǒ yǐ , wǒ mǎn yāo téng tòng ; tòng kǔ jiāng wǒ zhuā zhù , hǎo xiàng chǎn nán de fù rén yí yàng 。 wǒ téng tòng shèn zhì bù néng tīng ; wǒ jīng huáng shèn zhì bù néng kàn 。

Vậy nên lưng ta đau lắm, quặn thắt như đàn bà đang sanh đẻ; sự đau đớn mà ta chịu, làm cho ta không nghe, sự kinh hãi làm cho ta không thấy!

wǒ xīn huāng zhāng , jīng kǒng wēi hè wǒ 。 wǒ suǒ xiàn mù de huáng hūn , biàn wèi wǒ de zhàn jīng 。

Lòng ta mê muội, rất nên khiếp sợ; vốn là chiều hôm ta ưa thích, đã đổi ra sự run rẩy cho ta.

tā men bǎi shè yán xí , pài rén shǒu wàng , yòu chī yòu hē 。 shǒu lǐng a , nǐ men qǐ lái , yòng yóu mǒ dùn pái 。

Người ta đặt bàn tiệc, cắt kẻ canh giữ; người ta ăn và uống. Hỡi các quan trưởng, hãy chờ dậy! Hãy thoa dầu cho cái thuẫn!

使

zhǔ duì wǒ rú cǐ shuō : nǐ qù shè lì shǒu wàng de , shǐ tā jiāng suǒ kàn jiàn de shù shuō 。

Vì Chúa phán cùng tôi như vầy: Hãy đi, sắp đặt vọng canh, thấy việc gì thì báo.

tā kàn jiàn jūn duì , jiù shì qí mǎ de yí duì yi duì dì lái , yòu kàn jiàn lǘ duì , luò tuó duì , jiù yào cè ěr xì tīng 。

Khi nó thấy quân lính cỡi ngựa đi từng cặp, và có lừa cùng lạc đà từng bầy, thì nó phải chăm chỉ mà nghe.

tā xiàng shī zi hǒu jiào , shuō : zhǔ a , wǒ bái rì cháng zhàn zài wàng lóu shàng , zhěng yè lì zài wǒ shǒu wàng suǒ 。

Đoạn nó kêu lên như sư tử, mà rằng: Hỡi Chúa, tôi đứng rình nơi chòi trông cả ngày, và đứng tại chỗ tôi canh cả đêm.

kàn nǎ , yǒu yí duì jūn bīng qí zhe mǎ , yí duì yi duì dì lái 。 tā jiù shuō : bā bǐ lún qīng dǎo le ! qīng dǎo le ! tā yí qiè diāo kè de shén xiàng dōu dǎ suì yú dì 。

Nầy, có quân lính cỡi ngựa đi từng cặp mà đến. Nó đáp rằng: Ba-by-lôn đổ xuống rồi, đổ xuống rồi! Mọi hình tượng tà thần của nó đã bể nát trên đất rồi!

wǒ bèi dǎ de hé jià , wǒ chǎng shàng de gǔ a , wǒ cóng wàn jūn zhī yē hé huá — yǐ sè liè de shén nà lǐ suǒ tīng jiàn de , dōu gào sù nǐ men le 。

Hỡi lúa bị đạp của ta, là thóc trên sân kia! sự ta đã nghe từ Đức Giê-hô-va vạn quân, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, thì ta đã bảo cho ngươi biết.

西

lùn dù mǎ de mò shì : yǒu rén shēng cóng xī ěr hū wèn wǒ shuō : shǒu wàng de a , yè lǐ rú hé ? shǒu wàng de a , yè lǐ rú hé ?

Gánh nặng về Đu-ma. Có người từ Sê-i-rơ kêu tôi rằng: Hỡi người canh, đêm thể nào? Hỡi người canh, đêm thể nào?

shǒu wàng de shuō : zǎo chén jiāng dào , hēi yè yě lái 。 nǐ men ruò yào wèn jiù kě yǐ wèn , kě yǐ huí tóu zài lái 。

Người canh đáp rằng: Buổi sáng đến; đêm cũng đến. Nếu muốn hỏi thì hỏi đi; hãy trở lại, hãy đến.

宿

lùn ā lā bó de mò shì : dǐ dàn jié bàn de kè lǚ a , nǐ men bì zài ā lā bó de shù lín zhōng zhù sù 。

Gánh nặng về A-ra-bi. Hỡi đoàn đi buôn ở Đê-đan, sẽ ngủ trong rừng xứ A-ra-bi. Dân cư Thê-ma đã đem nước cho những kẻ khát;

tí mǎ dì de jū mín ná shuǐ lái , sòng gěi kǒu kě de , ná bǐng lái yíng jiē táo bì de 。

đã đón những người trốn đặng cho họ bánh.

yīn wèi tā men táo bì dāo jiàn hé chū le qiào de dāo , bìng shàng le xián de gōng yǔ dāo bīng de zhòng zāi 。

Vì họ trốn gươm, trốn gươm trần, trốn cung giương ra, trốn sự chiến tranh kinh khiếp.

:「耀

zhǔ duì wǒ zhè yàng shuō :「 yì nián zhī nèi , zhào gù gōng de nián shù , jī dá de yí qiè róng yào bì guī yú wú yǒu 。

Chúa đã phán cùng tôi như vầy: Trong một năm nữa, kể như năm kẻ ở mướn, cả sự vinh hiển của Kê-đa sẽ hao mòn.

。」

gōng jiàn shǒu suǒ yú shèng de , jiù shì jī dá rén de yǒng shì , bì rán xī shǎo , yīn wèi zhè shì yē hé huá — yǐ sè liè de shén shuō de 。」

Những kẻ cầm cung mạnh mẽ, là con cái của Kê-đa, sẽ sót lại chẳng bao lăm. Vì Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, đã phán vậy.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.