中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 15

đã biết 0/284

:「西

yē hé huá duì wǒ shuō :「 suī yǒu mó xī hé sā mǔ ěr zhàn zài wǒ miàn qián dài qiú , wǒ de xīn yě bú gù xī zhè bǎi xìng 。 nǐ jiāng tā men cóng wǒ yǎn qián gǎn chū , jiào tā men qù ba !

Đức Giê-hô-va bèn phán cùng tôi rằng: Dầu Môi-se và Sa-mu-ên đứng trước mặt ta, nhưng lòng ta cũng chẳng hướng về dân nầy. Hãy đuổi chúng nó khỏi trước mặt ta, cho chúng nó đi ra.

:『?』便。」

tā men wèn nǐ shuō :『 wǒ men wǎng nǎ lǐ qù ne ?』 nǐ biàn gào sù tā men , yē hé huá rú cǐ shuō : dìng wèi sǐ wáng de , bì zhì sǐ wáng ; dìng wèi dāo shā de , bì jiāo dāo shā ; dìng wèi jī huāng de , bì zāo jī huāng ; dìng wèi lǔ lüè de , bì bèi lǔ lüè 。」

Sẽ xảy ra khi chúng nó khỏi ngươi rằng: Chúng tôi sẽ đi đâu? thì hãy bảo chúng nó rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ai đã được định cho chết, hãy chịu chết; ai đã được định cho phải gươm dao, hãy chịu gươm dao; ai đã được định cho phải đói kém, hãy chịu đói kém; ai đã được định cho sự phu tù, hãy chịu phu tù.

:「

yē hé huá shuō :「 wǒ mìng dìng sì yàng hài tā men , jiù shì dāo jiàn shā lù 、 gǒu lèi sī liè 、 kōng zhōng de fēi niǎo , hé dì shàng de yě shòu tūn chī huǐ miè ;

Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ giáng cho chúng nó bốn thứ tai vạ; gươm để giết, chó để xé, chim trời và loài thú trên đất để nuốt và diệt đi.

使西西。」

yòu bì shǐ tā men zài tiān xià wàn guó zhōng pāo lái pāo qù , dōu yīn yóu dà wáng xī xī jiā de ér zi mǎ ná xī zài yē lù sā lěng suǒ xíng de shì 。」

Vì cớ Ma-na-se, con trai Ê-xê-chia, vua Giu-đa, và vì những sự nó đã làm trong thành Giê-ru-sa-lem, ta sẽ khiến chúng nó bị ném đi ném lại trong các nước thiên hạ.

yē lù sā lěng a , shuí kě lián nǐ ne ? shuí wèi nǐ bēi shāng ne ? shuí zhuǎn shēn wèn nǐ de ān ne ?

Hỡi Giê-ru-sa-lem, ai sẽ thương xót ngươi được sao? ai sẽ than tiếc ngươi? ai sẽ xây lại mà hỏi thăm ngươi?

退

yē hé huá shuō : nǐ qì jué le wǒ , zhuǎn shēn tuì hòu ; yīn cǐ wǒ shēn shǒu gōng jī nǐ , huǐ huài nǐ 。 wǒ hòu huǐ shèn bú nài fán 。

Đức Giê-hô-va phán: Ngươi đã bỏ ta, đã xây lại đằng sau, nên ta đã giang tay trên ngươi, để diệt ngươi. Ta đã chán sự đổi ý.

使

wǒ zài jìng nèi gè chéng mén kǒu , yòng bò ji bò le wǒ de bǎi xìng , shǐ tā men sàng diào ér nǚ 。 wǒ huǐ miè tā men , tā men réng bù zhuǎn lí suǒ xíng de dào 。

Ta đã lấy nia sảy chúng nó nơi cửa các thành đất nầy. Ta đã cất mất con cái chúng nó và diệt dân ta, mà chúng nó cũng chẳng trở lại khỏi đường lối mình.

使使

tā men de guǎ fù zài wǒ miàn qián bǐ hǎi shā gèng duō ; wǒ shǐ miè mìng de wǔ jiān lái , gōng jī shào nián rén de mǔ qīn , shǐ tòng kǔ jīng xià hū rán lín dào tā shēn shàng 。

Những đàn bà góa nó thêm lên nhiều hơn cát biển. Ta đã khiến kẻ thù hủy diệt giữa ban ngày, nghịch cùng mẹ kẻ trai trẻ. Ta đã khiến sự sầu não kinh hãi lâm trên nó thình lình.

shēng guò qī zǐ de fù rén lì shuāi qì jué ; shàng zài bái zhòu , rì tou hū luò ; tā bào kuì méng xiū 。 qí yú de rén , wǒ bì zài tā men dí rén gēn qián , jiāo yǔ dāo jiàn 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Đàn bà đã sanh bảy con, thấy mình mòn mỏi, hầu trút linh hồn; khi còn ban ngày, mặt trời nó đã lặn; nó phải sỉ nhục và hổ thẹn; còn những con cái sót lại, thì ta sẽ phó cho gươm của kẻ nghịch thù chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.

wǒ de mǔ qīn nǎ , wǒ yǒu huò le ! yīn nǐ shēng wǒ zuò wéi biàn dì xiāng zhēng xiāng jìng de rén 。 wǒ sù lái méi yǒu jiè dài yǔ rén , rén yě méi yǒu jiè dài yǔ wǒ , rén rén què dōu zhòu mà wǒ 。

Hỡi mẹ tôi ơi, khốn nạn cho tôi! Mẹ đã sanh ra tôi làm người mắc phải sự tranh đua cãi lẫy trong cả đất? Tôi vốn không cho ai vay mượn, cũng chẳng vay mượn ai; dầu vậy, mọi người nguyền rủa tôi.

:「使使。(

yē hé huá shuō :「 wǒ bì yào jiān gù nǐ , shǐ nǐ dé hǎo chù 。 zāi huò kǔ nàn lín dào de shí hòu , wǒ bì yào shǐ chóu dí yāng qiú nǐ 。(

Nhưng Đức Giê-hô-va phán: Thật ta sẽ bổ sức cho ngươi được phước. Trong khi gặp tai vạ hoạn nạn, thật ta sẽ khiến kẻ thù nghịch đến cầu xin ngươi.

?)

rén qǐ néng jiāng tóng yǔ tiě , jiù shì běi fāng de tiě zhé duàn ne ?)

Sắt và đồng của phương bắc, người ta có thể bẻ gãy được sao?

「 wǒ bì yīn nǐ zài sì jìng zhī nèi suǒ fàn de yí qiè zuì , bǎ nǐ de huò wù cái bǎo dāng lüè wù , bái bái dì jiāo gěi chóu dí 。

Vì cớ mọi tội lỗi các ngươi, trong cả địa phận mình, ta sẽ phó của cải châu báu các ngươi cho sự cướp bóc, chẳng trả giá lại.

使。」

wǒ yě bì shǐ chóu dí dài zhè lüè wù dào nǐ suǒ bú rèn shi de dì qù , yīn wǒ nù zhōng qǐ de huǒ yào jiāng nǐ men fén shāo 。」

Ta sẽ làm cho những đồ ấy đi với kẻ thù ngươi qua một đất mà ngươi không biết, vì lửa giận của ta đã cháy lên, đặng thiêu hủy các ngươi.

yē hé huá a , nǐ shì zhī dào de ; qiú nǐ jì niàn wǒ , juàn gù wǒ , xiàng bī pò wǒ de rén wéi wǒ bào chóu ; bú yào xiàng tā men rěn nù qǔ wǒ de mìng , yào zhī dào wǒ wèi nǐ de yuán gù shòu le líng rǔ 。

Hỡi Đức Giê-hô-va! Ngài hiểu biết. Xin hãy nhớ đến tôi, thăm viếng tôi, và trả thù những kẻ bắt bớ cho tôi. Xin chớ cất tôi đi trong sự nhịn nhục Ngài; xin biết cho rằng tôi vì Ngài chịu nhuốc nhơ!

yē hé huá — wàn jūn zhī shén a , wǒ dé zhe nǐ de yán yǔ jiù dāng shí wù chī le ; nǐ de yán yǔ shì wǒ xīn zhōng de huān xǐ kuài lè , yīn wǒ shì chēng wéi nǐ míng xià de rén 。

Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi vậy. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì tôi được xưng bằng danh Ngài!

使

wǒ méi yǒu zuò zài yàn lè rén de huì zhōng , yě méi yǒu huān lè ; wǒ yīn nǐ de gǎn dòng dú zì jìng zuò , yīn nǐ shǐ wǒ mǎn xīn fèn hèn 。

Tôi chẳng ngồi trong đám hội kẻ vui chơi mừng rỡ; nhưng tôi ngồi một mình vì tay Ngài; vì Ngài đã làm cho tôi đầy sự giận.

wǒ de tòng kǔ wèi hé cháng jiǔ bù zhǐ ne ? wǒ de shāng hén wèi hé wú fǎ yī zhì 、 bù néng quán yù ne ? nán dào nǐ dài wǒ yǒu guǐ zhà , xiàng liú gān de hé dào ma ?

Cớ sao sự đau đớn của tôi cứ còn hoài? Cớ sao vết thương của tôi không chữa được và nó không chịu khỏi? Ngài đối với tôi hẳn như cái khe giả dối, cái suối tắt mạch hay sao?

使

yē hé huá rú cǐ shuō : nǐ ruò guī huí , wǒ jiù jiāng nǐ zài dài lái , shǐ nǐ zhàn zài wǒ miàn qián ; nǐ ruò jiāng bǎo guì de hé xià jiàn de fēn bié chū lái , nǐ jiù kě yǐ dàng zuò wǒ de kǒu 。 tā men bì guī xiàng nǐ , nǐ què bù kě guī xiàng tā men 。

Vậy nên, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu ngươi trở lại, thì ta sẽ lại đem ngươi đứng trước mặt ta; nếu ngươi làm cho sự quí lìa khỏi sự hèn, thì ngươi sẽ như miệng ta, chúng nó sẽ trở về cùng ngươi; nhưng ngươi chẳng trở về cùng chúng nó.

使

wǒ bì shǐ nǐ xiàng zhè bǎi xìng chéng wèi jiān gù de tóng qiáng ; tā men bì gōng jī nǐ , què bù néng shèng nǐ ; yīn wǒ yǔ nǐ tóng zài , yào zhěng jiù nǐ , dā jiù nǐ 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Ta sẽ khiến ngươi làm tường đồng vững bền cho dân nầy, họ sẽ đánh với ngươi, nhưng không thắng ngươi được, vì ta ở cùng ngươi đặng cứu ngươi và giải thoát ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy.

wǒ bì dā jiù nǐ tuō lí è rén de shǒu , jiù shú nǐ tuō lí qiáng bào rén de shǒu 。

Ta sẽ rút ngươi ra khỏi tay kẻ ác, sẽ chuộc ngươi khỏi tay kẻ bạo tàn.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.