中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 25

đã biết 0/345

西

yóu dà wáng yuē xī yà de ér zi yuē yǎ jìng dì sì nián , jiù shì bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā de yuán nián , yē hé huá lùn yóu dà zhòng mín de huà lín dào yē lì mǐ 。

Nầy là lời phán cùng Giê-rê-mi về cả dân Giu-đa, trong năm thứ tư đời Giê-hô-gia-kim, con trai Giô-si-a, vua của Giu-đa; ấy là năm thứ nhất đời Nê-bu-cát-nết-sa, vua nước Ba-by-lôn.

xiān zhī yē lì mǐ jiù jiāng zhè huà duì yóu dà zhòng rén hé yē lù sā lěng de yí qiè jū mín shuō :

Đấng tiên tri Giê-rê-mi rao truyền những lời nầy trước mặt dân Giu-đa và hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem rằng:

西

「 cóng yóu dà wáng yà men de ér zi yuē xī yà shí sān nián zhí dào jīn rì , zhè èr shí sān nián zhī nèi , cháng yǒu yē hé huá de huà lín dào wǒ ; wǒ yě duì nǐ men chuán shuō , jiù shì cóng zǎo qǐ lái chuán shuō , zhǐ shì nǐ men méi yǒu tīng cóng 。

Từ năm thứ mười ba đời Giô-si-a, con trai A-môn, vua của Giu-đa, cho đến ngày nay có hai mươi ba năm, lời của Đức Giê-hô-va phán cùng tôi. Từ lúc đó, tôi dậy sớm nói cùng các ngươi; nhưng các ngươi chẳng khứng nghe tôi.

),

yē hé huá yě cóng zǎo qǐ lái , chāi qiǎn tā de pú rén zhòng xiān zhī dào nǐ men zhè lǐ lái ( zhǐ shì nǐ men méi yǒu tīng cóng , yě méi yǒu cè ěr ér tīng ),

Đức Giê-hô-va đã sai các đầy tớ Ngài, là các tiên tri, đến cùng các ngươi, dậy sớm mà sai đến, nhưng các ngươi không nghe lời, không để tai mà nghe.

:『便

shuō :『 nǐ men gè rén dāng huí tóu , lí kāi è dào hé suǒ zuò de è , biàn kě jū zhù yē hé huá gǔ shí suǒ cì gěi nǐ men hé nǐ men liè zǔ zhī dì , zhí dào yǒng yuǎn 。

Các đấng ấy nói rằng: Mỗi người trong các ngươi hãy từ đường dữ mình trở lại; hãy bỏ điều ác của việc làm mình, và ở trong đất mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi từ xưa cho đến đời đời.

bù kě suí cóng bié shén shì fèng jìng bài , yǐ nǐ men shǒu suǒ zuò de rě wǒ fā nù ; zhè yàng , wǒ jiù bù jiā hài yǔ nǐ men 。

Chớ theo các thần khác đặng hầu việc và thờ lạy, chớ lấy việc tay mình làm ra mà chọc giận ta nữa, thì ta sẽ không làm hại chi các ngươi.

。』」

rán ér nǐ men méi yǒu tīng cóng wǒ , jìng yǐ shǒu suǒ zuò de rě wǒ fā nù , xiàn hài zì jǐ 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。』」

Đức Giê-hô-va phán: Nhưng các ngươi chẳng nghe ta, mà lấy việc làm của tay mình chọc giận ta, và chuốc lấy tai hại cho mình.

:「

suǒ yǐ wàn jūn zhī yē hé huá rú cǐ shuō :「 yīn wèi nǐ men méi yǒu tīng cóng wǒ de huà ,

Vậy nên, Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Vì các ngươi đã chẳng nghe lời ta,

wǒ bì zhào běi fāng de zhòng zú hé wǒ pú rén bā bǐ lún wáng ní bù jiǎ ní sā lái gōng jī zhè dì hé zhè dì de jū mín , bìng sì wéi yí qiè de guó mín 。 wǒ yào jiāng tā men jìn xíng miè jué , yǐ zhì tā men lìng rén jīng hài 、 chī xiào , bìng qiě yǒng jiǔ huāng liáng 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

nầy, ta sẽ sai đòi mọi họ hàng phương bắc cùng đầy tớ ta là Nê-bu-các-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến nghịch cùng đất nầy, nghịch cùng dân cư nó, và các nước ở chung quanh. Ta sẽ diệt hết chúng nó, làm chúng nó nên sự gở lạ, chê cười, và hoang vu đời đời. Đức Giê-hô-va phán vậy.

使

wǒ yòu yào shǐ huān xǐ hé kuài lè de shēng yīn , xīn láng hé xīn fù de shēng yīn , tuī mò de shēng yīn hé dēng de liàng guāng , cóng tā men zhōng jiān zhǐ xī 。

Vả, ta sẽ làm cho trong vòng chúng nó hết tiếng reo vui và kêu-mừng, hết tiếng của rể mới và dâu mới, hết tiếng ầm ầm của cối xay và ánh sáng của đèn.

zhè quán dì bì rán huāng liáng , lìng rén jīng hài 。 zhè xiē guó mín yào fú shì bā bǐ lún wáng qī shí nián 。

Cả đất nầy sẽ trở nên hoang vu gở lạ, các nước nầy sẽ phục sự vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm.

使

qī shí nián mǎn le yǐ hòu , wǒ bì xíng fá bā bǐ lún wáng hé nà guó mín , bìng jiā lè dǐ rén zhī dì , yīn tā men de zuì niè shǐ nà dì yǒng yuǎn huāng liáng 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Đức Giê-hô-va phán: Khi bảy mươi năm ấy sẽ mãn, ta sẽ phạt vua Ba-by-lôn và dân người, vì cớ tội ác chúng nó. Ta sẽ phạt xứ người Canh-đê và biến thành một nơi hoang vu đời đời.

使

wǒ yě bì shǐ wǒ xiàng nà dì suǒ shuō de huà , jiù shì jì zài zhè shū shàng de huà , shì yē lì mǐ xiàng zhè xiē guó mín shuō de yù yán , dōu lín dào nà dì 。

Phàm lời ta đã phán nghịch cùng đất ấy, tức lời chép trong sách nầy, là lời Giê-rê-mi đã nói tiên tri nghịch cùng muôn nước, thì sẽ xảy đến cho đất ấy.

使。」

yīn wèi yǒu duō guó hé dà jūn wáng bì shǐ jiā lè dǐ rén zuò nú pú ; wǒ yě bì zhào tā men de xíng wéi , àn tā men shǒu suǒ zuò de bào yìng tā men 。」

Vả, sẽ có nhiều nước và vua lớn bắt chính người Canh-đê làm tôi mọi, và ta sẽ báo chúng nó theo việc làm của chúng, và theo việc bởi tay chúng làm ra.

:「忿使

yē hé huá — yǐ sè liè de shén duì wǒ rú cǐ shuō :「 nǐ cóng wǒ shǒu zhōng jiē zhè bēi fèn nù de jiǔ , shǐ wǒ suǒ chāi qiǎn nǐ qù de gè guó de mín hē 。

Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán cùng tôi như vầy: Hãy lấy chén rượu của sự giận khỏi tay ta, khá cho các dân mà ta sai ngươi đến đều uống lấy.

西使。」

tā men hē le jiù yào dōng dǎo xī wāi , bìng yào fā kuáng , yīn wǒ shǐ dāo jiàn lín dào tā men zhōng jiān 。」

Chúng nó sẽ uống, sẽ đi xiêu tó, và điên cuồng, vì cớ gươm dao mà ta sẽ sai đến giữa chúng nó.

wǒ jiù cóng yē hé huá de shǒu zhōng jiē le zhè bēi , gěi yē hé huá suǒ chāi qiǎn wǒ qù de gè guó de mín hē ,

Vậy tôi lấy chén khỏi tay Đức Giê-hô-va, và khiến cho mọi nước mà Đức Giê-hô-va sai tôi đến đều uống lấy:

使

jiù shì yē lù sā lěng hé yóu dà de chéng yì , bìng yē lù sā lěng de jūn wáng yǔ shǒu lǐng , shǐ zhè chéng yì huāng liáng , lìng rén jīng hài 、 chī xiào 、 zhòu zǔ , zhèng rú jīn rì yí yàng 。

cho Giê-ru-sa-lem và cho các thành của Giu-đa, cho các vua các quan trưởng nó, làm cho chúng nó hoang vu, gở lạ, bị chê cười, chịu rủa sả như ngày nay;

yòu yǒu āi jí wáng fǎ lǎo hé tā de chén pú 、 shǒu lǐng , yǐ jí tā de zhòng mín ,

cho Pha-ra-ôn, vua nước Ê-díp-tô, cho những đầy tớ người, cho các quan trưởng và dân sự người;

);

bìng zá zú de rén mín hé wū sī dì de zhū wáng , yǔ fēi lì shì dì de zhū wáng ( yà shí jī lún 、 jiā sà 、 yǐ gé lún , yǐ jí yà shí tū shèng xià de rén );

cho mọi dân lộn, cho mọi vua xứ Uùt-xơ, cho mọi vua xứ Phi-li-tin: tức vua của Aùch-ca-lôn, của Ga-xa, của Eùc-rôn, và những kẻ còn sống sót ở Aùch-đốt;

yǐ dōng 、 mó yā 、 yà mén rén 、

cho Ê-đôm, cho Mô-áp, cho con cái Am-môn;

西

tài ěr de zhū wáng 、 xī dùn de zhū wáng 、 hǎi dǎo de zhū wáng 、

cho các vua Ty-rơ, cho mọi vua ở Si-đôn, và cho mọi vua ở cù lao ngoài biển;

dǐ dàn 、 tí mǎ 、 bù sī , hé yí qiè tì zhōu wéi tóu fa de ;

cho Đê-đan, cho Thê-ma, cho Bu-xơ, cho những kẻ cạo tóc chung quanh đầu;

ā lā bó de zhū wáng 、 zhù kuàng yě zá zú rén mín de zhū wáng 、

cho mọi vua A-ra-bi, cho các vua của các nước thuộc về các giống lộn ở đồng vắng;

xīn lì de zhū wáng 、 yǐ lán de zhū wáng 、 mǐ dǐ yà de zhū wáng 、

cho mọi vua của Xim-ri, cho mọi vua của Ê-lam, cho mọi vua của Mê-đi;

běi fāng yuǎn jìn de zhū wáng , yǐ jí tiān xià dì shàng de wàn guó hē le , yǐ hòu shì shā kè wáng yě yào hē 。

cho mọi vua phương bắc, ở gần hoặc ở xa, cho vua nầy cùng với vua kia; sau lại, cho mọi nước thế gian ở trên mặt đất. Vua của Sê-sác cũng sẽ uống chén sau các vua kia.

:『 使。』

「 nǐ yào duì tā men shuō :『 wàn jūn zhī yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō : nǐ men yào hē , qiě yào hē zuì , yào ǒu tǔ , qiě yào diē dǎo , bù dé zài qǐ lái , dōu yīn wǒ shǐ dāo jiàn lín dào nǐ men zhōng jiān 。』

Ngươi khá bảo họ rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Hãy uống đi hãy say, mửa, ngã xuống, đừng dậy nữa, vì cớ gươm dao mà ta sẽ sai đến giữa các ngươi!

:『

「 tā men ruò bù kěn cóng nǐ shǒu jiē zhè bēi hē , nǐ jiù yào duì tā men shuō :『 wàn jūn zhī yē hé huá rú cǐ shuō : nǐ men yí dìng yào hē !

Nếu họ không khứng lấy chén ở tay ngươi đặng uống, thì ngươi khá bảo rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Chắc các ngươi phải uống!

。』

wǒ jì cóng chēng wéi wǒ míng xià de chéng qǐ shǒu shī xíng zāi huò , nǐ men néng jìn miǎn xíng fá ma ? nǐ men bì bù néng miǎn , yīn wèi wǒ yào mìng dāo jiàn lín dào dì shàng yí qiè de jū mín 。 zhè shì wàn jūn zhī yē hé huá shuō de 。』

Vả, nầy, ấy là thành kia là thành được xưng bằng danh ta, mà ta bắt đầu xuống tai vạ; còn các ngươi, há khỏi hình phạt được cả sao? Không! các ngươi sẽ không khỏi hình phạt đâu; vì ta sẽ sai gươm dao đến trên mọi dân cư trên đất, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.

「 suǒ yǐ nǐ yào xiàng tā men yù yán zhè yí qiè de huà , gōng jī tā men , shuō : yē hé huá bì cóng gāo tiān hǒu jiào , cóng shèng suǒ fā shēng , xiàng zì jǐ de yáng qún dà shēng hǒu jiào ; tā yào xiàng dì shàng yí qiè de jū mín nà hǎn , xiàng chuài pú táo de yí yàng 。

Cho nên ngươi khá lấy mọi lời nầy nói tiên tri nghịch cùng họ, và bảo rằng: Đức Giê-hô-va quát tháo từ nơi cao; phát tiếng từ chỗ ở thánh Ngài; quát tháo to nghịch cùng chuồng chiên; trổi tiếng kêu như những kẻ đạp trái nho, nghịch cùng hết thảy dân cư trên đất.

bì yǒu xiǎng shēng dá dào dì jí , yīn wèi yē hé huá yǔ liè guó xiāng zhēng ; fán yǒu xuè qì de , tā bì shěn wèn ; zhì yú è rén , tā bì jiāo gěi dāo jiàn 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Tiếng om sòm sẽ vang ra đến cùng đất; vì Đức Giê-hô-va tranh cạnh cùng các nước, phán xét mọi xác thịt, phó những kẻ dữ cho gươm dao, Đức Giê-hô-va phán vậy.

wàn jūn zhī yē hé huá rú cǐ shuō : kàn nǎ , bì yǒu zāi huò cóng zhè guó fā dào nà guó , bìng yǒu dà bào fēng cóng dì jí guā qǐ 。

Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, tai vạ sẽ từ một dân nầy qua một dân khác; một trận bão lớn dấy lên từ các nơi đầu cùng đất.

「 dào nà rì , cóng dì zhè biān zhí dào dì nà biān dōu yǒu yē hé huá suǒ shā lù de 。 bì wú rén āi kū , bù dé shōu liàn , bù dé zàng mái , bì zài dì shàng chéng wéi fèn tǔ 。

Thây của những kẻ mà Đức Giê-hô-va đã giết trong ngày đó, sẽ đầy trên đất từ đầu nầy đến đầu kia; chẳng ai khóc, chẳng thâu liệm, chẳng chôn, sẽ làm phân trên mặt đất!

mù rén nǎ , nǐ men dāng āi háo , hū hǎn ; qún zhòng de tóu mù a , nǐ men yào gǔn zài huī zhōng ; yīn wèi nǐ men bèi shā lù fēn sàn de rì zi zú zú lái dào 。 nǐ men yào diē suì , hǎo xiàng měi qì dǎ suì yí yàng 。

Hỡi những kẻ chăn, hãy than khóc, cất tiếng than van! Hỡi những kẻ dẫn bầy chiên, hãy lăn trong tro bụi! Vì ngày các ngươi bị giết, kỳ các ngươi bị tan lạc đã đến hạn; các ngươi sẽ ngã xuống như bình quí giá.

mù rén wú lù táo pǎo ; qún zhòng de tóu mù yě wú fǎ táo tuō 。

Kẻ chăn không bởi đâu trốn tránh, kẻ dẫn bầy chiên không bởi đâu thoát ra.

使

tīng a , yǒu mù rén hū hǎn , yǒu qún zhòng tóu mù āi háo de shēng yīn , yīn wèi yē hé huá shǐ tā men de cǎo chǎng biàn wèi huāng chǎng 。

Kẻ chăn phát tiếng kêu, kẻ dẫn bầy chiên than khóc; vì Đức Giê-hô-va phá hoang đồng cỏ họ,

yē hé huá fà chū měng liè de nù qì , píng ān de yáng juàn jiù dōu jì jìng wú shēng 。

và những chuồng chiên yên ổn đã bị bắt phải nín lặng bởi sự nóng giận của Đức Giê-hô-va.

。」

tā lí le yǐn mì chù xiàng shī zi yí yàng , tā men de dì , yīn dāo jiàn xiōng měng de qī yā , yòu yīn tā měng liè de nù qì dōu chéng wéi kě jīng hài de 。」

Ngài như sư tử đã ra khỏi chỗ kín mình. Đất chúng nó đã trở nên gở lạ bởi sức mạnh rất hung đè nén, và cơn giận rất mãnh liệt.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.