中文圣经

QUAN ÁN 7

đã biết 0/264

·

yē lù · bā lì jiù shì jī diàn , tā hé yí qiè gēn suí de rén zǎo chén qǐ lái , zài hā lǜ quán páng ān yíng 。 mǐ diàn yíng zài tā men běi biān de píng yuán , kào jìn mó lì gāng 。

Qua ngày sau, Giê-ru-ba-anh, tức là Ghê-đê-ôn, và cả dân sự đồng theo người đều dậy sớm, đi đến đóng trại gần bên suối Ha-rốt. Dinh của Ma-đi-an ở phía bắc về lối nổng Mô-rê, trong trũng.

:「:『。』

yē hé huá duì jī diàn shuō :「 gēn suí nǐ de rén guò duō , wǒ bù néng jiāng mǐ diàn rén jiāo zài tā men shǒu zhōng , miǎn de yǐ sè liè rén xiàng wǒ kuā dà , shuō :『 shì wǒ men zì jǐ de shǒu jiù le wǒ men 。』

Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Đạo binh đi theo ngươi lấy làm đông quá, ta chẳng phó dân Ma-đi-an vào tay nó đâu, e Y-sơ-ra-ên đối cùng ta tự khoe mà rằng: Tay tôi đã cứu tôi.

:『。』」

xiàn zài nǐ yào xiàng zhè xiē rén xuān gào shuō :『 fán jù pà dǎn qiè de , kě yǐ lí kāi jī liè shān huí qù 。』」 yú shì yǒu èr wàn èr qiān rén huí qù , zhī shèng xià yí wàn 。

Vậy bây giờ, hãy truyền lịnh nầy cho bá tánh nghe: Ai là người sợ hãi run rẩy, khá trở về khỏi núi Ga-la-át! Hai vạn hai ngàn người bèn trở về, còn một vạn người ở lại.

:「:『』,:『』,。」

yē hé huá duì jī diàn shuō :「 rén hái shì guò duō ; nǐ yào dài tā men xià dào shuǐ páng , wǒ hǎo zài nà lǐ wèi nǐ shì shì tā men 。 wǒ zhǐ diǎn shuí shuō :『 zhè rén kě yǐ tóng nǐ qù 』, tā jiù kě yǐ tóng nǐ qù ; wǒ zhǐ diǎn shuí shuō :『 zhè rén bù kě tóng nǐ qù 』, tā jiù bù kě tóng nǐ qù 。」

Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Dân hãy còn đông quá, phải biểu chúng xuống nơi mé nước, rồi ta sẽ vì ngươi thử chúng nó tại đó. Hễ kẻ nào ta phán với ngươi rằng: “Nó khá đi với ngươi,” thì nó sẽ đi theo ngươi; còn kẻ nào ta phán cùng ngươi rằng: “Nó chớ đi với ngươi,” thì kẻ đó không đi.

:「使使。」

jī diàn jiù dài tā men xià dào shuǐ páng 。 yē hé huá duì jī diàn shuō :「 fán yòng shé tou tiǎn shuǐ , xiàng gǒu tiǎn de , yào shǐ tā dān zhàn zài yí chù ; fán guì xià hē shuǐ de , yě yào shǐ tā dān zhàn zài yí chù 。」

Vậy, người biểu dân sự xuống mé nước; rồi Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Phàm kẻ nào dùng lưỡi liếm nước như chó, và kẻ nào quì gối cúi xuống mà uống, thì ngươi phải để riêng ra.

yú shì yòng shǒu pěng zhe tiǎn shuǐ de yǒu sān bǎi rén , qí yú de dōu guì xià hē shuǐ 。

Số người bụm nước trong tay rồi kê miệng liếm là ba trăm, còn lại bao nhiêu đều quì gối cúi xuống mà uống.

:「。」

yē hé huá duì jī diàn shuō :「 wǒ yào yòng zhè tiǎn shuǐ de sān bǎi rén zhěng jiù nǐ men , jiāng mǐ diàn rén jiāo zài nǐ shǒu zhōng ; qí yú de rén dōu kě yǐ gè guī gè chù qù 。」

Bấy giờ, Đức Giê-hô-va bèn phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Ta sẽ dùng ba trăm người đã liếm nước đó mà giải cứu các ngươi, và ta sẽ phó dân Ma-đi-an vào tay ngươi. Còn dân sự khác, ai nấy đều phải trở về nhà mình!

zhè sān bǎi rén jiù dài zhe shí wù hé jiǎo ; qí yú de yǐ sè liè rén , jī diàn dōu dǎ fā tā men gè guī gè de zhàng péng , zhī liú xià zhè sān bǎi rén 。 mǐ diàn yíng zài tā xià biān de píng yuán lǐ 。

Ghê-đê-ôn cho cả người Y-sơ-ra-ên, ai trở về trại nấy, nhưng giữ lại ba trăm người kia; chúng lấy lương thực và cây kèn trong tay. Vả, dinh Ma-đi-an ở thân dưới người, tại trong trũng.

:「

dāng nà yè , yē hé huá fēn fù jī diàn shuō :「 qǐ lái , xià dào mǐ diàn yíng lǐ qù , yīn wǒ yǐ jiāng tā men jiāo zài nǐ shǒu zhōng 。

Xảy trong đêm đó, Đức Giê-hô-va phán cùng Ghê-đê-ôn rằng: Hãy chổi dậy, đi xuống hãm dinh Ma-đi-an, vì ta đã phó nó vào tay ngươi.

tǎng ruò nǐ pà xià qù , jiù dài nǐ de pú rén pǔ lā xià dào nà yíng lǐ qù 。

Còn nếu ngươi sợ hãm nó, thì hãy đi xuống đó với Phu-ra, đầy tớ ngươi.

。」

nǐ bì tīng jiàn tā men suǒ shuō de , rán hòu nǐ jiù yǒu dǎn liàng xià qù gōng yíng 。」 yú shì jī diàn dài zhe pú rén pǔ lā xià dào yíng páng 。

Người sẽ nghe điều chúng nó nói, rồi ngươi sẽ cảm biết rằng mình cóóóóóómạnh mà hãm dinh chúng nó. Vậy, Ghê-đê-ôn đi xuống cùng Phu-ra, đầy tớ mình, đến gần nơi lính canh ở đầu dinh.

mǐ diàn rén 、 yà mǎ lì rén , hé yí qiè dōng fāng rén dōu bù sàn zài píng yuán , rú tóng huáng chóng nà yàng duō 。 tā men de luò tuó wú shù , duō rú hǎi biān de shā 。

Vả, dân Ma-đi-an, dân A-ma-léc, và hết thảy người phương Đông bủa ra trong trũng đông như cào cào, còn lạc đà của chúng nó thì vô số, khác nào cát nơi bờ biển.

:「。」

jī diàn dào le , jiù tīng jiàn yì rén jiāng mèng gào sù tóng bàn shuō :「 wǒ zuò le yí mèng , mèng jiàn yí gè dà mài bǐng gǔn rù mǐ diàn yíng zhōng , dào le zhàng mù , jiāng zhàng mù zhuàng dǎo , zhàng mù jiù fān zhuǎn qīng fù le 。」

Trong lúc Ghê-đê-ôn đến, có một người thuật điềm chiêm bao cho bạn mình nghe, rằng: Nầy, tôi có một điềm chiêm bao, thấy một cái bánh nhỏ bằng bột lúa mạch lăn vào trại quân Ma-đi-an: nó lăn đến một trại, đụng làm cho trại ngã, lật ngược trên lộn dưới, nên trại bị đánh đổ.

:「。」

nà tóng bàn shuō :「 zhè bú shì bié de , nǎi shì yǐ sè liè rén yuē ā shī de ér zǐ jī diàn de dāo ; shén yǐ jiāng mǐ diàn hé quán jūn dōu jiāo zài tā de shǒu zhōng 。」

Bọn người đáp rằng: Đó nào khác hơn là gươm của Ghê-đê-ôn, con trai Giô-ách, người Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã phó Ma-đi-an và cả trại quân vào tay người.

:「。」

jī diàn tīng jiàn zhè mèng hé mèng de jiǎng jiě , jiù jìng bài shén , huí dào yǐ sè liè yíng zhōng , shuō :「 qǐ lái ba ! yē hé huá yǐ jiāng mǐ diàn de jūn duì jiāo zài nǐ men shǒu zhōng le 。」

Khi Ghê-đê-ôn nghe lời thuật điềm chiêm bao nầy và sự bàn điềm đó, thì thờ lạy Đức Chúa Trời; rồi trở về trại quân Y-sơ-ra-ên, mà rằng: Hãy chổi dậy, vì Đức Giê-hô-va đã phó trại quân Ma-đi-an vào tay các ngươi!

),

yú shì jī diàn jiāng sān bǎi rén fēn zuò sān duì , bǎ jiǎo hé kōng píng jiāo zài gè rén shǒu lǐ ( píng nèi dōu cáng zháo huǒ bǎ ),

Đoạn, người chia ba trăm người làm ba đội, phát cho mỗi tên những kèn, bình không, và đuốc ở trong bình,

:「

fēn fù tā men shuō :「 nǐ men yào kàn wǒ xíng shì : wǒ dào le yíng de páng biān zěn yàng xíng , nǐ men yě yào zěn yàng xíng 。

mà dặn rằng: Hãy ngó ta, và làm y như ta làm; khi ta đến đầu trại quân, các ngươi sẽ làm theo điều ta làm.

:『!』」

wǒ hé yí qiè gēn suí wǒ de rén chuī jiǎo de shí hòu , nǐ men yě yào zài yíng de sì wéi chuī jiǎo , hǎn jiào shuō :『 yē hé huá hé jī diàn de dāo !』」

Khi ta và những kẻ theo ta thổi kèn, thì các ngươi cũng sẽ thổi kèn ở khắp xung quanh trại quân, và reo lên rằng: Vì Đức Giê-hô-va và vì Ghê-đê-ôn!

jī diàn hé gēn suí tā de yì bǎi rén , zài sān gēng zhī chū cái huàn gèng de shí hòu , lái dào yíng páng , jiù chuī jiǎo , dǎ pò shǒu zhōng de píng 。

Ghê-đê-ôn và một trăm quân theo người đi đến đầu trại quân vào lúc canh ba, hồi mới giao canh. Chúng thổi kèn, và đập bể bình mình cầm nơi tay.

:「!」

sān duì de rén jiù dōu chuī jiǎo , dǎ pò píng zi , zuǒ shǒu ná zhe huǒ bǎ , yòu shǒu ná zhe jiǎo , hǎn jiào shuō :「 yē hé huá hé jī diàn de dāo !」

Bấy giờ, ba đội quân thổi kèn, và đập bể bình, tay tả cầm đuốc, tay hữu nắm kèn đặng thổi; đoạn cất tiếng reo lên rằng: Gươm của Đức Giê-hô-va và của Ghê-đê-ôn!

使

tā men zài yíng de sì wéi gè zhàn gè de dì fāng ; quán yíng de rén dōu luàn cuàn 。 sān bǎi rén nà hǎn , shǐ tā men táo pǎo 。

Chúng đứng vây quanh trại quân, ai cứ chỗ nấy; cả trại quân bèn vỡ chạy, cất tiếng la và trốn đi.

使西··

sān bǎi rén jiù chuī jiǎo , yē hé huá shǐ quán yíng de rén yòng dāo hù xiāng jī shā , táo dào xī lì lā de bó · hā shì tā , zhí táo dào kào jìn tā bā de yà bó · mǐ hé lā 。

Ba trăm người cứ thổi kèn, và khắp trại quân, Đức Giê-hô-va khiến trở gươm của mỗi người chém lẫn bạn mình. Đạo-binh chạy trốn đến Bết-si-ta, về hướng Xê-rê-ra, cho đến bờ cõi A-bên-Mê-hô-la gần Ta-bát.

西

yǐ sè liè rén jiù cóng ná fú tā lì 、 yà shè , hé mǎ ná xī quán dì jù jí lái zhuī gǎn mǐ diàn rén 。

Người Y-sơ-ra-ên, tức những người chi phái Nép-ta-li, A-se và Ma-na-se hiệp lại mà đuổi theo dân Ma-đi-an.

:「·。」·

jī diàn dǎ fā rén zǒu biàn yǐ fǎ lián shān dì , shuō :「 nǐ men xià lái gōng jī mǐ diàn rén , zhēng xiān bǎ shǒu yuē dàn hé de dù kǒu , zhí dào bó · bā lā 。」 yú shì yǐ fǎ lián de zhòng rén jù jí , bǎ shǒu yuē dàn hé de dù kǒu , zhí dào bó · bā lā ,

Bấy giờ, Ghê-đê-ôn sai sứ vào khắp núi Eùp-ra-im đặng nói rằng: Hãy xuống đón dân Ma-đi-an, chận đường chúng nó qua sông, cho đến Bết-Ba-ra và các chỗ cạn của Giô-đanh. Vậy, các người Eùp-ra-im hiệp lại, chiếm các bến cho đến Bết-Ba-ra, cùng những chỗ cạn của Giô-đanh.

西西西西

zhuō zhù le mǐ diàn rén de liǎng gè shǒu lǐng : yì míng é lì , yì míng xī yī bó ; jiāng é lì shā zài é lì pán shí shàng , jiāng xī yī bó shā zài xī yī bó jiǔ zhà nà lǐ ; yòu zhuī gǎn mǐ diàn rén , jiāng é lì hé xī yī bó de shǒu jí dài guò yuē dàn hé , dào jī diàn nà lǐ 。

Chúng cũng bắt được hai quan trưởng của dân Ma-đi-an, là Ô-rép và Xê-ép; giết Ô-rép tại nơi hòn đá Ô-rép, và Xê-ép tại nơi máy ép rượu Xê-ép. Đoạn, họ đuổi theo dân Ma-đi-an, cùng đem đầu Ô-rép và đầu Xê-ép đến Ghê-đê-ôn ở phía bên kia sông Giô-đanh.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.