中文圣经

LU-CA 2

đã biết 0/377

dāng nà xiē rì zǐ , kǎi sā ào gǔ sī dōu yǒu zhǐ yì xià lái , jiào tiān xià rén mín dōu bào míng shàng cè 。

Lúc ấy, Sê-sa Au-gút-tơ ra chiếu chỉ phải lập sổ dân trong cả thiên hạ.

zhè shì jū lǐ niǔ zuò xù lì yà xún fǔ de shí hòu , tóu yí cì xíng bào míng shàng cè de shì 。

Việc lập sổ dân nầy là trước hết, và nhằm khi Qui-ri-ni-u làm quan tổng đốc xứ Sy-ri.

zhòng rén gè guī gè chéng , bào míng shàng cè 。

Ai nấy đều đến thành mình khai tên vào sổ.

yuē sè yě cóng jiā lì lì de ná sā lè chéng shàng yóu tài qù , dào le dà wèi de chéng , míng jiào bó lì héng , yīn tā běn shì dà wèi yì zú yì jiā de rén ,

Vì Giô-sép là dòng dõi nhà Đa-vít, cho nên cũng từ thành Na-xa-rét, xứ Ga- li-lê, lên thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, xứ Giu-đê,

yào hé tā suǒ pìn zhī qī mǎ lì yà yì tóng bào míng shàng cè 。 nà shí mǎ lì yà de shēn yùn yǐ jīng zhòng le 。

để khai vào sổ tên mình và tên Ma-ri, là người đã hứa gả cho mình đang có thai.

tā men zài nà lǐ de shí hòu , mǎ lì yà de chǎn qī dào le ,

Đang khi hai người ở nơi đó, thì ngày sanh đẻ của Ma-ri đã đến.

jiù shēng le tóu tāi de ér zǐ , yòng bù bāo qǐ lái , fàng zài mǎ cáo lǐ , yīn wèi kè diàn lǐ méi yǒu dì fāng 。

Người sanh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không có đủ chỗ ở.

zài bó lì héng zhī yě dì lǐ yǒu mù yáng de rén , yè jiān àn zhe gèng cì kān shǒu yáng qún 。

Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên.

使

yǒu zhǔ de shǐ zhě zhàn zài tā men páng biān , zhǔ de róng guāng sì miàn zhào zhe tā men ; mù yáng de rén jiù shèn jù pà 。

Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi.

使:「

nà tiān shǐ duì tā men shuō :「 bú yào jù pà ! wǒ bào gěi nǐ men dà xǐ de xìn xī , shì guān hū wàn mín de ;

Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân;

yīn jīn tiān zài dà wèi de chéng lǐ , wèi nǐ men shēng le jiù zhǔ , jiù shì zhǔ jī dū 。

ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa.

。」

nǐ men yào kàn jiàn yí gè yīng hái , bāo zhe bù , wò zài mǎ cáo lǐ , nà jiù shì jì hào le 。」

Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ.

使

hū rán , yǒu yí dà duì tiān bīng tóng nà tiān shǐ zàn měi shén shuō :

Bỗng chúc có muôn vàn thiên binh với thiên sứ đó ngợi khen Đức Chúa Trời rằng:

耀

zài zhì gāo zhī chù róng yào guī yǔ shén ! zài dì shàng píng ān guī yǔ tā suǒ xǐ yuè de rén !

Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!

使:「。」

zhòng tiān shǐ lí kāi tā men , shēng tiān qù le 。 mù yáng de rén bǐ cǐ shuō :「 wǒ men wǎng bó lì héng qù , kàn kàn suǒ chéng de shì , jiù shì zhǔ suǒ zhǐ shì wǒ men de 。」

Sau khi các thiên sứ lìa họ lên trời rồi, bọn chăn nói với nhau rằng: Chúng ta hãy tới thành Bết-lê-hem, xem việc đã xảy đến mà Chúa cho chúng ta hay.

tā men jí máng qù le , jiù xún jiàn mǎ lì yà hé yuē sè , yòu yǒu nà yīng hái wò zài mǎ cáo lǐ ;

Vậy, họ vội vàng đi đến đó, thấy Ma-ri, Giô-sép, và thấy con trẻ đang nằm trong máng cỏ.

使

jì rán kàn jiàn , jiù bǎ tiān shǐ lùn zhè hái zi de huà chuán kāi le 。

Đã thấy vậy, họ bèn thuật lại những lời thiên sứ nói về con trẻ đó.

fán tīng jiàn de , jiù chà yì mù yáng zhī rén duì tā men suǒ shuō de huà 。

Ai nấy nghe chuyện bọn chăn chiên nói, đều lấy làm lạ.

mǎ lì yà què bǎ zhè yí qiè de shì cún zài xīn lǐ , fǎn fù sī xiǎng 。

Còn Ma-ri thì ghi nhớ mọi lời ấy và suy nghĩ trong lòng.

使耀

mù yáng de rén huí qù le , yīn suǒ tīng jiàn suǒ kàn jiàn de yí qiè shì , zhèng rú tiān shǐ xiàng tā men suǒ shuō de , jiù guī róng yào yǔ shén , zàn měi tā 。

Bọn chăn chiên trở về, làm sáng danh và ngợi khen Đức Chúa Trời về mọi điều mình đã nghe và thấy y như lời đã bảo trước cùng mình.

使

mǎn le bā tiān , jiù gěi hái zi xíng gē lǐ , yǔ tā qǐ míng jiào yē sū ; zhè jiù shì méi yǒu chéng tāi yǐ qián , tiān shǐ suǒ qǐ de míng 。

Đến ngày thứ tám, là ngày phải làm phép cắt bì cho con trẻ, thì họ đặt tên là Jêsus, là tên thiên sứ đã đặt cho, trước khi chịu cưu mang trong lòng mẹ.

西,(

àn mó xī lǜ fǎ mǎn le jié jìng de rì zi , tā men dài zhe hái zi shàng yē lù sā lěng qù , yào bǎ tā xiàn yǔ zhǔ ,(

Khi đã hết những ngày tinh sạch rồi, theo luật pháp Môi-se, Giô-sép và Ma-ri đem con trẻ lên thành Giê-ru-sa-lem để dâng cho Chúa,

:「。」)

zhèng rú zhǔ de lǜ fǎ shàng suǒ jì :「 fán tóu shēng de nán zǐ bì chēng shèng guī zhǔ 。」)

như đã chép trong luật pháp Chúa rằng: Hễ con trai đầu lòng, phải dâng cho Chúa,

yòu yào zhào zhǔ de lǜ fǎ shàng suǒ shuō , huò yòng yí duì bān jiū , huò yòng liǎng zhī chú gē xiàn jì 。

lại dâng một cặp chim cu, hoặc chim bò câu con, như luật pháp Chúa đã truyền.

西

zài yē lù sā lěng yǒu yí gè rén , míng jiào xī miàn ; zhè rén yòu gōng yì yòu qián chéng , sù cháng pàn wàng yǐ sè liè de ān wèi zhě lái dào , yòu yǒu shèng líng zài tā shēn shàng 。

Vả, trong thành Giê-ru-sa-lem có một người công bình đạo đức, tên là Si- mê-ôn, trông đợi sự yên ủi dân Y-sơ-ra-ên, và Đức Thánh Linh ngự trên người.

tā dé le shèng líng de qǐ shì , zhī dào zì jǐ wèi sǐ yǐ qián , bì kàn jiàn zhǔ suǒ lì de jī dū 。

Đức Thánh Linh đã bảo trước cho người biết mình sẽ không chết trước khi thấy Đấng Christ của Chúa.

殿

tā shòu le shèng líng de gǎn dòng , jìn rù shèng diàn , zhèng yù jiàn yē sū de fù mǔ bào zhe hái zi jìn lái , yào zhào lǜ fǎ de guī jǔ bàn lǐ 。

Vậy người cảm bởi Đức Thánh Linh vào đền thờ, lúc có cha mẹ đem con trẻ là Jêsus đến, để làm trọn cho Ngài các thường lệ mà luật pháp đã định,

西

xī miàn jiù yòng shǒu jiē guò tā lái , chēng sòng shén shuō :

thì người bồng ẵm con trẻ, mà ngợi khen Đức Chúa Trời rằng:

zhǔ a ! rú jīn kě yǐ zhào nǐ de huà , shì fàng pú rén ān rán qù shì ;

Lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an, theo như lời Ngài;

yīn wèi wǒ de yǎn jīng yǐ jīng kàn jiàn nǐ de jiù ēn —

Vì con mắt tôi đã thấy sự cứu vớt của Ngài,

jiù shì nǐ zài wàn mín miàn qián suǒ yù bèi de :

Mà Ngài đã sắm sửa đặng làm ánh sáng trước mặt muôn dân,

耀

shì zhào liàng wài bāng rén de guāng , yòu shì nǐ mín yǐ sè liè de róng yào 。

Soi khắp thiên hạ, Và làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài.

hái zi de fù mǔ yīn zhè lùn yē sū de huà jiù xī qí 。

Cha mẹ con trẻ lấy làm lạ về mấy lời người ta nói về con.

西:「。」

xī miàn gěi tā men zhù fú , yòu duì hái zǐ de mǔ qīn mǎ lì yà shuō :「 zhè hái zi bèi lì , shì yào jiào yǐ sè liè zhōng xǔ duō rén diē dǎo , xǔ duō rén xīng qǐ ; yòu yào zuò huǐ bàng de huà bǐng , jiào xǔ duō rén xīn lǐ de yì niàn xiǎn lù chū lái ; nǐ zì jǐ de xīn yě yào bèi dāo cì tòu 。」

Si-mê-ôn bèn chúc phước cho hai vợ chồng, nói với Ma-ri, mẹ con trẻ rằng: Đây, con trẻ nầy đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu gây nên sự cãi trả;

còn phần ngươi, có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi. Aáy vậy tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ được bày tỏ.

yòu yǒu nǚ xiān zhī , míng jiào yà ná , shì yà shè zhī pài fǎ nèi lì de nǚ ér , nián jì yǐ jīng lǎo mài , cóng zuò tóng nǚ chū jià de shí hòu , tóng zhàng fu zhù le qī nián jiù guǎ jū le ,

Lại có bà tiên tri An-ne, con gái của Pha-nu-ên, về chi phái A-se, đã cao tuổi lắm. Từ lúc còn đồng trinh đã ở với chồng được bảy năm;

殿

xiàn zài yǐ jīng bā shí sì suì , bìng bù lí kāi shèng diàn , jìn shí qí qiú , zhòu yè shì fèng shén 。

rồi thì ở góa. Bấy giờ đã tám mươi bốn tuổi, chẳng hề ra khỏi đền thờ, cứ đêm ngày hầu việc Đức Chúa Trời, kiêng ăn và cầu nguyện.

zhèng dāng nà shí , tā jìn qián lái chēng xiè shén , jiāng hái zi de shì duì yí qiè pàn wàng yē lù sā lěng dé jiù shú de rén jiǎng shuō 。

Một lúc ấy, người cũng thình lình đến đó, ngợi khen Đức Chúa Trời, và nói chuyện về con trẻ với mọi người trông đợi sự giải cứu của thành Giê-ru-sa-lem.

yuē sè hé mǎ lì yà zhào zhǔ de lǜ fǎ bàn wán le yí qiè de shì , jiù huí jiā lì lì , dào zì jǐ de chéng ná sā lè qù le 。

Khi Giô-sép và Ma-ri đã làm trọn mọi việc theo luật pháp Chúa rồi, thì trở về thành của mình là Na-xa-rét trong xứ Ga-li-lê.

hái zi jiàn jiàn zhǎng dà , qiáng jiàn qǐ lái , chōng mǎn zhì huì , yòu yǒu shén de ēn zài tā shēn shàng 。

Con trẻ lớn lên, và mạnh mẽ, được đầy dẫy sự khôn ngoan, và ơn Đức Chúa Trời ngự trên Ngài.

měi nián dào yú yuè jié , tā fù mǔ jiù shàng yē lù sā lěng qù 。

Vả, hằng năm đến ngày lễ Vượt qua, cha mẹ Đức Chúa Jêsus thường đến thành Giê-ru-sa-lem.

dāng tā shí èr suì de shí hòu , tā men àn zhe jié qī de guī jǔ shàng qù 。

Khi Ngài lên mười hai tuổi, theo lệ thường ngày lễ, cùng lên thành Giê- ru-sa-lem.

shǒu mǎn le jié qī , tā men huí qù , hái tóng yē sū réng jiù zài yē lù sā lěng 。 tā de fù mǔ bìng bù zhī dào ,

Các ngày lễ qua rồi, cha mẹ trở về, con trẻ là Jêsus ở lại thành Giê-ru-sa-lem, mà cha mẹ không hay chi hết.

yǐ wéi tā zài tóng háng de rén zhōng jiān , zǒu le yì tiān de lù chéng , jiù zài qīn zú hé shú shí de rén zhōng zhǎo tā ,

Hai người tưởng rằng Ngài cũng đồng đi với bạn đi đường, đi trót một ngày, rồi mới tìm hỏi trong đám bà con quen biết;

jì zhǎo bù zhe , jiù huí yē lù sā lěng qù zhǎo tā 。

nhưng không thấy Ngài, bèn trở lại thành Giê-ru-sa-lem mà tìm.

殿

guò le sān tiān , jiù yù jiàn tā zài diàn lǐ , zuò zài jiào shī zhōng jiān , yí miàn tīng , yí miàn wèn 。

Khỏi ba ngày, gặp Ngài tại trong đền thờ đang ngồi giữa mấy thầy thông thái, vừa nghe vừa hỏi.

fán tīng jiàn tā de , dōu xī qí tā de cōng ming hé tā de yìng duì 。

Ai nấy nghe, đều lạ khen về sự khôn ngoan và lời đối đáp của Ngài.

:「!」

tā fù mǔ kàn jiàn jiù hěn xī qí 。 tā mǔ qīn duì tā shuō :「 wǒ ér ! wèi shén me xiàng wǒ men zhè yàng xíng ne ? kàn nǎ , nǐ fù qīn hé wǒ shāng xīn lái zhǎo nǐ !」

Khi cha mẹ thấy Ngài, thì lấy làm lạ, và mẹ hỏi rằng: Hỡi con, sao con làm cho hai ta thể nầy? Nầy, cha và mẹ đã khó nhọc lắm mà tìm con.

:「 ?」

yē sū shuō :「 wèi shén me zhǎo wǒ ne ? qǐ bù zhī wǒ yīng dāng yǐ wǒ fù de shì wèi niàn ma ?」

Ngài thưa rằng: Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?

tā suǒ shuō de zhè huà , tā men bù míng bái 。

Nhưng hai người không hiểu lời Ngài nói chi hết.

tā jiù tóng tā men xià qù , huí dào ná sā lè , bìng qiě shùn cóng tā men 。 tā mǔ qīn bǎ zhè yí qiè de shì dōu cún zài xīn lǐ 。

Đoạn, Ngài theo về thành Na-xa-rét và chịu lụy cha mẹ. Mẹ Ngài ghi các lời ấy vào lòng.

yē sū de zhì huì hé shēn liàng , bìng shén hé rén xǐ ài tā de xīn , dōu yì qí zēng zhǎng 。

Đức Chúa Jêsus khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.