中文圣经

KHẢI THỊ 9

đã biết 0/218

使

dì wǔ wèi tiān shǐ chuī hào , wǒ jiù kàn jiàn yí gè xīng cóng tiān luò dào dì shàng , yǒu wú dǐ kēng de yào shi cì gěi tā 。

Vị thiên sứ thứ năm thổi loa, thì tôi thấy một ngôi sao từ trời rơi xuống đất, và được ban cho chìa khóa của vực sâu không đáy.

便

tā kāi le wú dǐ kēng , biàn yǒu yān cóng kēng lǐ wǎng shàng mào , hǎo xiàng dà huǒ lú de yān ; rì tou hé tiān kōng dōu yīn zhè yān hūn àn le 。

Ngôi sao ấy mở vực sâu không đáy ra, có một luồng khói dưới vực bay lên, như khói của lò lửa lớn; mặt trời và không khí đều bị tối tăm bởi luồng khói của vực.

yǒu huáng chóng cóng yān zhōng chū lái , fēi dào dì shàng ; yǒu néng lì cì gěi tā men , hǎo xiàng dì shàng xiē zǐ de néng lì yí yàng ,

Từ luồng khói ấy, có những châu chấu bay ra rải trên mặt đất; và có kẻ ban cho chúng nó quyền giống như bọ cạp ở đất vậy.

bìng qiě fēn fù tā men shuō , bù kě shāng hài dì shàng de cǎo hé gè yàng qīng wù , bìng yí qiè shù mù , wéi dú yào shāng hài é shàng méi yǒu shén yìn jì de rén 。

Có lời truyền cho chúng nó chớ làm hại loài cỏ ở đất, thứ xanh và cây cối nào, nhưng chỉ làm hại những người không có ấn Đức Chúa Trời ở trên trán.

dàn bù xǔ huáng chóng hài sǐ tā men , zhī jiào tā men shòu tòng kǔ wǔ gè yuè 。 zhè tòng kǔ jiù xiàng xiē zǐ shì rén de tòng kǔ yí yàng 。

Lại cho chúng nó phép, không phải là giết, nhưng là làm khổ những người đó trong năm tháng, và sự làm khổ ấy giống như sự làm khổ khi bọ cạp cắn người ta.

zài nà xiē rì zi , rén yāo qiú sǐ , jué bù dé sǐ ; yuàn yì sǐ , sǐ què yuǎn bì tā men 。

Trong những ngày đó, người ta sẽ tìm sự chết, mà không tìm được; họ sẽ ước ao chết đi mà sự chết tránh xa.

huáng chóng de xíng zhuàng , hǎo xiàng yù bèi chū zhàn de mǎ yí yàng , tóu shàng dài de hǎo xiàng jīn guān miǎn , liǎn miàn hǎo xiàng nán rén de liǎn miàn ,

Những châu chấu đó giống như những ngựa sắm sẵn để đem ra chiến trận: trên đầu nó có như mão triều thiên tợ hồ bằng vàng, và mặt nó như mặt người ta;

齿齿

tóu fa xiàng nǚ rén de tóu fa , yá chǐ xiàng shī zi de yá chǐ 。

nó có tóc giống tóc đàn bà, và răng nó như răng sư tử.

xiōng qián yǒu jiǎ , hǎo xiàng tiě jiǎ 。 tā men chì bǎng de shēng yīn , hǎo xiàng xǔ duō chē mǎ bēn pǎo shàng zhèn de shēng yīn 。

Nó có giáp như giáp bằng sắt; và tiếng cánh nó như tiếng của nhiều xe có nhiều ngựa kéo chạy ra nơi chiến trường.

yǒu wěi ba xiàng xiē zǐ , wěi ba shàng de dú gōu néng shāng rén wǔ gè yuè 。

Đuôi nó có nọc, như bọ cạp, ấy bởi trong những đuôi đó mà chúng nó có quyền hại người ta trong năm tháng.

使

yǒu wú dǐ kēng de shǐ zhě zuò tā men de wáng , àn zhe xī bó lái huà , míng jiào yà bā dùn , xī là huà , míng jiào yà bō lún 。

Nó có vua đứng đầu, là sứ giả của vực sâu, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là A-ba-đôn, tiếng Gờ-réc là A-bô-ly-ôn.

dì yī yàng zāi huò guò qù le , hái yǒu liǎng yàng zāi huò yào lái 。

Nạn thứ nhất đã qua; nay còn hai nạn nữa đến sau nó.

使

dì liù wèi tiān shǐ chuī hào , wǒ jiù tīng jiàn yǒu shēng yīn cóng shén miàn qián jīn tán de sì jiǎo chū lái ,

Vị thiên sứ thứ sáu thổi loa, thì tôi nghe có tiếng ra từ bốn góc bàn thờ bằng vàng đặt trước mặt Đức Chúa Trời.

使:「使。」

fēn fù nà chuī hào de dì liù wèi tiān shǐ , shuō :「 bǎ nà kǔn bǎng zài yòu fā lā dǐ dà hé de sì gè shǐ zhě shì fàng le 。」

Tiếng ấy nói cùng vị thiên sứ thứ sáu đang cầm loa rằng: Hãy cổi cho bốn vị thiên sứ bị trói trên bờ sông cái Ơ-phơ-rát.

使

nà sì gè shǐ zhě jiù bèi shì fàng ; tā men yuán shì yù bèi hǎo le , dào mǒu nián mǒu yuè mǒu rì mǒu shí , yào shā rén de sān fēn zhī yī 。

Bốn vị thiên sứ bèn được cổi trói, đã chực sẵn đến giờ, ngày, tháng, và năm ấy, hầu cho tiêu diệt một phần ba loài người.

mǎ jūn yǒu èr wàn wàn ; tā men de shù mù wǒ tīng jiàn le 。

Số binh kỵ mã của đạo quân là hai trăm triệu; số đó tôi đã nghe.

wǒ zài yì xiàng zhōng kàn jiàn nà xiē mǎ hé qí mǎ de , qí mǎ de xiōng qián yǒu jiǎ rú huǒ , yǔ zǐ mǎ nǎo bìng liú huáng 。 mǎ de tóu hǎo xiàng shī zi tóu , yǒu huǒ 、 yǒu yān 、 yǒu liú huáng cóng mǎ de kǒu zhōng chū lái 。

Kìa trong sự hiện thấy, tôi thấy những ngựa và kẻ cỡi ra làm sao: những kẻ ấy đều mặc giáp màu lửa, mầu tía, mầu lưu hoàng; đầu ngựa giống như dầu sư tử, và miệng nó có phun lửa, khói và diêm sanh.

kǒu zhōng suǒ chū lái de huǒ yǔ yān bìng liú huáng , zhè sān yàng zāi shā le rén de sān fēn zhī yī 。

Một phần ba loài người bị giết vì ba tai nạn đó, là lửa, khói, và diêm sanh ra từ miệng ngựa.

zhè mǎ de néng lì shì zài kǒu lǐ hé wěi ba shàng ; yīn zhè wěi ba xiàng shé , bìng qiě yǒu tóu yòng yǐ hài rén 。

Vì quyền phép của những ngựa ấy ở nơi miệng và đuôi nó; những đuôi ấy giống như con rắn, và có đầu, nhờ đó nó làm hại người.

qí yú wèi céng bèi zhè xiē zāi suǒ shā de rén réng jiù bù huǐ gǎi zì jǐ shǒu suǒ zuò de , hái shì qù bài guǐ mó hé nà xiē bù néng kàn 、 bù néng tīng 、 bù néng zǒu , jīn 、 yín 、 tóng 、 mù 、 shí de ǒu xiàng ,

Còn những người sót lại, chưa bị các tai nạn đó giết đi, vẫn không ăn năn những công việc bởi tay chúng nó làm cứ thờ lạy ma quỉ cùng thần tượng bằng vàng, bạc, đồng, đã và gỗ, là những tượng không thấy, không nghe, không đi được.

yòu bù huǐ gǎi tā men nà xiē xiōng shā 、 xié shù 、 jiān yín 、 tōu qiè de shì 。

Chúng nó cũng không ăn năn những tội giết người, tà thuật, gian dâm, trộm cướp của mình nữa.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.