中文圣经

RU-TƠ 1

đã biết 0/218

dāng shì shī bǐng zhèng de shí hòu , guó zhōng zāo yù jī huāng 。 zài yóu dà de bó lì héng , yǒu yí gè rén dài zhe qī zǐ hé liǎng gè ér zi wǎng mó yā dì qù jì jū 。

Trong đời các quan xét, một cơn đói kém xảy đến trong xứ, có một người từ Bết-lê-hem xứ Giu-đa, đi với vợ và hai con trai mình đến kiều ngụ trong xứ Mô-áp.

zhè rén míng jiào yǐ lì mǐ lè , tā de qī míng jiào ná é mǐ ; tā liǎng gè ér zi , yí gè míng jiào mǎ lún , yí gè míng jiào jī lián , dōu shì yóu dà bó lì héng de yǐ fǎ tā rén 。 tā men dào le mó yā dì , jiù zhù zài nà lǐ 。

Người tên là Ê-li-mê-léc, vợ tên là Na-ô-mi, hai con trai tên là Mạc-lôn và Ki-li-ôn, đều là dân Ê-phơ-rát về Bết-lê-hem trong xứ Giu-đa. Đến xứ Mô-áp, chúng bèn ở tại đó.

hòu lái ná é mǐ de zhàng fu yǐ lì mǐ lè sǐ le , shèng xià fù rén hé tā liǎng gè ér zi 。

Ê-li-mê-léc, chồng của Na-ô-mi, qua đời, để nàng lại với hai con trai mình.

zhè liǎng gè ér zi qǔ le mó yā nǚ zǐ wèi qī , yí gè míng jiào é ěr bā , yí gè míng jiào lù dé , zài nà lǐ zhù le yuē yǒu shí nián 。

Chúng nó cưới vợ trong người nữ Mô-áp, người nầy tên là Oït-ba, người kia tên là Ru-tơ; họ ở tại đó độ mười năm.

mǎ lún hé jī lián èr rén yě sǐ le , shèng xià ná é mǐ , méi yǒu zhàng fu , yě méi yǒu ér zi 。

Kế sau, Mạc-lôn và Ki-li-ôn cũng thác, để Na-ô-mi ở lại, không chồng không con.

tā jiù yǔ liǎng gè ér fù qǐ shēn , yào cóng mó yā dì guī huí ; yīn wèi tā zài mó yā dì tīng jiàn yē hé huá juàn gù zì jǐ de bǎi xìng , cì liáng shí yǔ tā men 。

Bấy giờ, Na-ô-mi có nghe nói rằng Đức Giê-hô-va đã đoái xem dân sự Ngài, và ban lương thực cho, bèn đứng dậy cùng hai dâu mình, đặng từ xứ Mô-áp trở về.

yú shì tā hé liǎng gè ér fù qǐ xíng lí kāi suǒ zhù de dì fāng , yào huí yóu dà dì qù 。

Vậy, người lìa bỏ chỗ mình đã ở, cùng hai dâu mình lên đường đặng trở về xứ Giu-đa.

:「

ná é mǐ duì liǎng gè ér fù shuō :「 nǐ men gè rén huí niáng jiā qù ba 。 yuàn yē hé huá ēn dài nǐ men , xiàng nǐ men ēn dài yǐ sǐ de rén yǔ wǒ yí yàng !

Nhưng Na-ô-mi nói cùng hai dâu mình rằng: Mỗi con hãy trở về nhà mẹ mình đi. Cầu Đức Giê-hô-va lấy ơn đãi hai con như hai con đã đãi các người thác của chúng ta, và đã đãi chính mình ta!

使!」

yuàn yē hé huá shǐ nǐ men gè zài xīn fū jiā zhōng dé píng ān !」 yú shì ná é mǐ yǔ tā men qīn zuǐ 。 tā men jiù fàng shēng ér kū ,

Nguyện Đức Giê-hô-va ban cho hai con được bình yên ở nơi nhà chồng mới! Rồi người ôm hôn hai nàng, còn hai nàng cất tiếng lên khóc,

:「。」

shuō :「 bù rán , wǒ men bì yǔ nǐ yì tóng huí nǐ běn guó qù 。」

và nói rằng: Chúng tôi sẽ đi với mẹ đến quê hương của mẹ.

:「

ná é mǐ shuō :「 wǒ nǚ ér men nǎ , huí qù ba ! wèi hé yào gēn wǒ qù ne ? wǒ hái néng shēng zǐ zuò nǐ men de zhàng fu ma ?

Ma-ô-mi đáp: Hỡi con gái ta, hãy trở về, đi với mẹ làm chi? Mẹ há còn những con trai trong lòng có thế làm chồng chúng con sao?

wǒ nǚ ér men nǎ , huí qù ba ! wǒ nián jì lǎo mài , bù néng zài yǒu zhàng fu ; jí huò shuō , wǒ hái yǒu zhǐ wàng , jīn yè yǒu zhàng fu kě yǐ shēng zǐ ,

Hỡi hai con gái ta, hãy trở về đi đi; mẹ già quá mà lấy chồng nữa. Lại dầu bây giờ mẹ nói: Ta có lòng trông mong, từ chiều nay ta sẽ có chồng, dẫu ta sanh đẻ con trai đi nữa,

。」

nǐ men qǐ néng děng zhe tā men zhǎng dà ne ? nǐ men qǐ néng děng zhe tā men bú jià bié rén ne ? wǒ nǚ ér men nǎ , bú yào zhè yàng 。 wǒ wèi nǐ men de yuán gù shèn shì chóu kǔ , yīn wèi yē hé huá shēn shǒu gōng jī wǒ 。」

chúng con há lại muốn đợi cho đến chúng nó khôn lớn, và không lấy chồng khác hay sao? Không, hỡi chúng con, nỗi sầu thảm của mẹ cay đắng muôn phần hơn của chúng con, vì tay của Đức Giê-hô-va đã giơ ra hại mẹ.

liǎng gè ér fù yòu fàng shēng ér kū , é ěr bā yǔ pó po qīn zuǐ ér bié , zhǐ shì lù dé shè bù dé ná é mǐ 。

Hai nàng lại cất tiếng lên khóc. Đoạn, Oït-ba hôn và từ biệt bà gia mình; còn Ru-tơ không chịu phân rẽ người.

:「!」

ná é mǐ shuō :「 kàn nǎ , nǐ sǎo zi yǐ jīng huí tā běn guó hé tā suǒ bài de shén nà lǐ qù le , nǐ yě gēn zhe nǐ sǎo zi huí qù ba !」

Na-ô-mi nói cùng Ru-tơ rằng: Nầy, chị con đã trở về quê hương và thần của nó; con hãy trở về theo nó đi.

:「宿宿

lù dé shuō :「 bú yào cuī wǒ huí qù bù gēn suí nǐ 。 nǐ wǎng nǎ lǐ qù , wǒ yě wǎng nà lǐ qù ; nǐ zài nǎ lǐ zhù sù , wǒ yě zài nà lǐ zhù sù ; nǐ de guó jiù shì wǒ de guó , nǐ de shén jiù shì wǒ de shén 。

Ru-tơ thưa rằng: Xin chớ nài tôi phân rẽ mẹ; vì mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó. Dân sự của mẹ, tức là dân sự của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của tôi;

使。」

nǐ zài nǎ lǐ sǐ , wǒ yě zài nà lǐ sǐ , yě zàng zài nà lǐ 。 chú fēi sǐ néng shǐ nǐ wǒ xiāng lí ! bù rán , yuàn yē hé huá chóng chóng dì jiàng fá yǔ wǒ 。」

mẹ thác nơi nào, tôi muốn thác và được chôn nơi đó. Ví bằng có sự chi khác hơn sự chết phân cách tôi khỏi mẹ, nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa cho tôi!

ná é mǐ jiàn lù dé dìng yì yào gēn suí zì jǐ qù , jiù bú zài quàn tā le 。

Na-ô-mi thấy nàng quyết định theo mình, nên không nói nữa.

:「?」

yú shì èr rén tóng háng , lái dào bó lì héng 。 tā men dào le bó lì héng , hé chéng de rén jiù dōu jīng yà 。 fù nǚ men shuō :「 zhè shì ná é mǐ ma ?」

Vậy, hai người đi đến Bết-lê-hem. Khi hai người đến, cả thành đều cảm động. Các người nữ hỏi rằng: Aáy có phải Na-ô-mi chăng?

:「使

ná é mǐ duì tā men shuō :「 bú yào jiào wǒ ná é mǐ , yào jiào wǒ mǎ lā , yīn wèi quán néng zhě shǐ wǒ shòu le dà kǔ 。

Người đáp: Chớ gọi tôi là Na-ô-mi, hãy gọi là Ma-ra, vì Đấng Toàn năng đã đãi tôi cách cay đắng lắm.

使使?」

wǒ mǎn mǎn dì chū qù , yē hé huá shǐ wǒ kōng kòng dì huí lái 。 yē hé huá jiàng huò yǔ wǒ ; quán néng zhě shǐ wǒ shòu kǔ 。 jì shì zhè yàng , nǐ men wèi hé hái jiào wǒ ná é mǐ ne ?」

Tôi đi ra được đầy dẫy, nhưng Đức Giê-hô-va dắt tôi về tay không. Đức Giê-hô-va đã giáng họa cho tôi, và Đấng Toàn năng khiến tôi bị khốn khổ, vậy còn gọi tôi là Na-ô-mi làm chi?

ná é mǐ hé tā ér fù mó yā nǚ zǐ lù dé , cóng mó yā dì huí lái dào bó lì héng , zhèng shì dòng shǒu gē dà mài de shí hòu 。

Na-ô-mi và Ru-tơ, người Mô-áp, dâu của Na-ô-mi, từ ở xứ Mô-áp trở về là như vậy. Hai người đến Bết-lê-hem nhằm đầu mùa gặt lúa mạch.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.