中文圣经

I CÁC VUA 18

đã biết 0/368

:「使。」

guò le xǔ jiǔ , dào dì sān nián , yē hé huá de huà lín dào yǐ lì yà shuō :「 nǐ qù , shǐ yà hā dé jiàn nǐ ; wǒ yào jiàng yǔ zài dì shàng 。」

Cách lâu ngày, trong năm thứ ba có lời của Đức Giê-hô-va phán dạy Ê-li rằng: Hãy đi, ra mắt A-háp: ta sẽ khiến mưa sa xuống đất.

使

yǐ lì yà jiù qù , yào shǐ yà hā dé jiàn tā 。 nà shí , sā mǎ lì yà yǒu dà jī huāng ;

Vậy, Ê-li đi ra mắt A-háp. Vả, tại Sa-ma-ri có cơn đói kém quá đỗi.

。(

yà hā jiāng tā de jiā zǎi é bā dǐ zhào le lái 。( é bā dǐ shèn shì jìng wèi yē hé huá ,

A-háp sai gọi Aùp-đia, là quan gia tể mình. (Aùp-đia rất kính sợ Đức Giê-hô-va.

。)

yē xǐ bié shā yē hé huá zhòng xiān zhī de shí hòu , é bā dǐ jiāng yì bǎi gè xiān zhī cáng le , měi wǔ shí rén cáng zài yí gè dòng lǐ , ná bǐng hé shuǐ gòng yǎng tā men 。)

Xảy ra khi Giê-sa-bên diệt hết các đấng tiên tri của Đức Giê-hô-va, thì Aùp-đia có đem một trăm đấng tiên tri đi giấu trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ.)

:「。」

yà hā duì é bā dǐ shuō :「 wǒ men zǒu biàn zhè dì , dào yí qiè shuǐ quán páng hé yí qiè xī biān , huò zhě zhǎo dé zhe qīng cǎo , kě yǐ jiù huó luó mǎ , miǎn de jué le shēng chù 。」

A-háp nói với Aùp-đia rằng: Hãy đi khắp xứ, xem hết thảy các suối và khe, có lẽ chúng ta sẽ tìm được cỏ, và cứu cho ngựa và la còn sống, không phải diệt hết các súc vật ta chăng?

yú shì èr rén fēn dì yóu xíng , yà hā dú zǒu yí lù , é bā dǐ dú zǒu yí lù 。

Vậy, hai người chia xứ đặng đi tuần. A-háp đi một mình con đường này, và Aùp-đia đi một mình con đường kia.

:「?」

é bā dǐ zài lù shang qià yǔ yǐ lì yà xiāng yù , é bā dǐ rèn chū tā lái , jiù fǔ fú zài dì , shuō :「 nǐ shì wǒ zhǔ yǐ lì yà bú shì ?」

Aùp-đia đang đi đường, thì gặp Ê-li ra đón mình. Aùp-đia nhìn biết người, sấp mình xuống đất, mà thưa rằng: Hỡi Ê-li chúa tôi! có phải ông chăng?

:「。」

huí dá shuō :「 shì 。 nǐ qù gào sù nǐ zhǔ rén shuō , yǐ lì yà zài zhè lǐ 。」

Người đáp: ã phải ta. Ngươi hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây.

:「使

é bā dǐ shuō :「 pú rén yǒu shén me zuì , nǐ jìng yào jiāng wǒ jiāo zài yà hā shǒu lǐ , shǐ tā shā wǒ ne ?

Aùp-đia tiếp rằng: Tôi có phạm tội gì, mà ông muốn phó kẻ tôi tớ ông vào tay A-háp, hầu cho người giết tôi đi?

使

wǒ zhǐ zhe yǒng shēng yē hé huá — nǐ de shén qǐ shì , wú lùn nǎ yì bāng nǎ yì guó , wǒ zhǔ dōu dǎ fā rén qù zhǎo nǐ 。 ruò shuō nǐ méi yǒu zài nà lǐ , jiù bì shǐ nà bāng nà guó de rén qǐ shì shuō , shí zài shì zhǎo bù zhe nǐ 。

Tôi chỉ Giê-hô-va Đức Chúa Trời hằng sống của ông mà thề, chẳng dân nào nước nào mà chủ tôi không sai đến tìm ông và khi người ta đáp rằng: Ê-li không có đây, thì người bắt nước bắt dân ấy thề rằng không ai gặp ông.

xiàn zài nǐ shuō , yào qù gào sù nǐ zhǔ rén shuō , yǐ lì yà zài zhè lǐ ;

Mà bây giờ, ông lại nói với tôi tớ rằng: Hãy đi nói với chủ ngươi: Ê-li ở đây.

kǒng pà wǒ yì lí kāi nǐ , yē hé huá de líng jiù tí nǐ dào wǒ suǒ bù zhī dào de dì fāng qù 。 zhè yàng , wǒ qù gào sù yà hā , tā ruò zhǎo bù zhe nǐ , jiù bì shā wǒ ; pú rén què shì zì yòu jìng wèi yē hé huá de 。

Rồi khi tôi lìa khỏi ông, sẽ có thần của Đức Giê-hô-va đem ông đi nơi nào tôi chẳng biết; vậy, khi tôi đi thuật lại cùng A-háp, mà người không thấy ông, ắt sẽ giết tôi đi. Vả, kẻ tôi tớ ông kính sợ Đức Giê-hô-va từ khi thơ ấu.

yē xǐ bié shā yē hé huá zhòng xiān zhī de shí hòu , wǒ jiāng yē hé huá de yì bǎi gè xiān zhī cáng le , měi wǔ shí rén cáng zài yí gè dòng lǐ , ná bǐng hé shuǐ gòng yǎng tā men , qǐ méi yǒu rén jiāng zhè shì gào sù wǒ zhǔ ma ?

Khi Giê-sa-bên giết các tiên tri của Đức Giê-hô-va, thì tôi có giấu một trăm tiên tri của Đức Giê-hô-va trong hai hang đá, mỗi hang năm mươi người, dùng bánh và nước mà nuôi họ; người ta há không có thuật điều đó cho chúa tôi hay sao?

。」

xiàn zài nǐ shuō , yào qù gào sù nǐ zhǔ rén shuō , yǐ lì yà zài zhè lǐ , tā bì shā wǒ 。」

Và bây giờ, ông biểu tôi: Hãy đi nói với chủ ngươi rằng: Ê-li ở đây. Người ắt sẽ giết tôi đi.

:「使。」

yǐ lì yà shuō :「 wǒ zhǐ zhe suǒ shì fèng yǒng shēng de wàn jūn zhī yē hé huá qǐ shì , wǒ jīn rì bì shǐ yà hā dé jiàn wǒ 。」

Ê-li đáp rằng: Ta chỉ sanh mạng Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đấng ta phục sự, mà thề rằng: Chính ngày nay ta sẽ ra mắt A-háp.

yú shì é bā dǐ qù yíng zhe yà hā , gào sù tā ; yà hā jiù qù yíng zhe yǐ lì yà 。

Vậy, Aùp-đia đi đón A-háp, và thuật lại cho người. A-háp bèn đi đón Ê-li.

便:「使?」

yà hā jiàn le yǐ lì yà , biàn shuō :「 shǐ yǐ sè liè zāo zāi de jiù shì nǐ ma ?」

Vừa khi A-háp thấy Ê-li, thì nói rằng: Có phải ngươi, là kẻ làm rối loạn Y-sơ-ra-ên chăng?

:「使

yǐ lì yà shuō :「 shǐ yǐ sè liè zāo zāi de bú shì wǒ , nǎi shì nǐ hé nǐ fù jiā ; yīn wèi nǐ men lí qì yē hé huá de jiè mìng , qù suí cóng bā lì 。

Ê-li đáp rằng: Chẳng phải tôi làm rối loạn Y-sơ-ra-ên đâu; bèn là vua và nhà cha vua, bởi vì vua đã bỏ điều răn của Đức Giê-hô-va, và đã tin theo thần Ba-anh.

使。」

xiàn zài nǐ dāng chāi qiǎn rén , zhāo jù yǐ sè liè zhòng rén hé shì fèng bā lì de nà sì bǎi wǔ shí gè xiān zhī , bìng yē xǐ bié suǒ gòng yǎng shì fèng yà shè lā de nà sì bǎi gè xiān zhī , shǐ tā men dōu shàng jiā mì shān qù jiàn wǒ 。」

Vậy bây giờ vua hãy sai người đi nhóm cả Y-sơ-ra-ên, với bốn trăm năm mươi tiên tri của Ba-anh, và bốn trăm tiên tri của Aùt-tạt-tê, ăn tại bàn Giê-sa-bên, khiến họ đến cùng tôi trên núi Cạt-mên.

yà hā jiù chāi qiǎn rén zhāo jù yǐ sè liè zhòng rén hé xiān zhī dōu shàng jiā mì shān 。

Vậy, A-háp sai người đi nhóm cả dân Y-sơ-ra-ên và những tiên tri đến núi Cạt-mên.

:「 。」

yǐ lì yà qián lái duì zhòng mín shuō :「 nǐ men xīn chí liǎng yì yào dào jǐ shí ne ? ruò yē hé huá shì shén , jiù dāng shùn cóng yē hé huá ; ruò bā lì shì shén , jiù dāng shùn cóng bā lì 。」 zhòng mín yì yán bù dá 。

Đoạn Ê-li đến trước mặt dân sự mà nói rằng: Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn. Song dân sự không đáp một lời.

:「

yǐ lì yà duì zhòng mín shuō :「 zuò yē hé huá xiān zhī de zhī shèng xià wǒ yí gè rén ; bā lì de xiān zhī què yǒu sì bǎi wǔ shí gè rén 。

Bấy giờ, Ê-li nói với dân sự rằng: Trong vòng những tiên tri của Đức Giê-hô-va, chỉ một mình ta còn lại; còn các tiên tri Ba-anh số là bốn trăm năm mươi người.

dāng gěi wǒ men liǎng zhī niú dú , bā lì de xiān zhī kě yǐ tiāo xuǎn yì zhī , qiè chéng kuài zǐ , fàng zài chái shàng , bú yào diǎn huǒ ; wǒ yě yù bèi yì zhī niú dú fàng zài chái shàng , yě bù diǎn huǒ 。

Vậy, hãy cho chúng ta hai con bò đực; họ phải chọn một con cho mình, sả ra từ miếng, sắp để trên củi, nhưng chớ châm lửa. Còn ta, ta sẽ làm con bò kia, để nó trên củi, nhưng không châm lửa.

。」:「。」

nǐ men qiú gào nǐ men shén de míng , wǒ yě qiú gào yē hé huá de míng 。 nà jiàng huǒ xiǎn yìng de shén , jiù shì shén 。」 zhòng mín huí dá shuō :「 zhè huà shèn hǎo 。」

Đoạn, hãy kêu cầu danh của thần các ngươi, còn ta, ta sẽ kêu cầu danh của Đức Giê-hô-va. Thần đáp lời bằng lửa, ấy quả là Đức Chúa Trời. Cả dân sự đều đáp rằng: Lời nói rất phải.

:「。」

yǐ lì yà duì bā lì de xiān zhī shuō :「 nǐ men jì shì rén duō , dāng xiān tiāo xuǎn yì zhī niú dú , yù bèi hǎo le , jiù qiú gào nǐ men shén de míng , què bú yào diǎn huǒ 。」

Ê-li bèn nói với những tiên tri Ba-anh rằng: hãy chọn một con bò đực, làm nó trước đi, vì các ngươi đông; rồi hãy cầu khẩn danh của thần các ngươi; nhưng chớ châm lửa.

:「!」

tā men jiāng suǒ dé de niú dú yù bèi hǎo le , cóng zǎo chén dào wǔ jiān , qiú gào bā lì de míng shuō :「 bā lì a , qiú nǐ yīng yǔn wǒ men !」 què méi yǒu shēng yīn , méi yǒu yīng yǔn de 。 tā men zài suǒ zhù de tán sì wéi yǒng tiào 。

Vậy, chúng bắt con bò mà người ta đã ban cho mà làm nó; rồi từ sớm mai đến trưa, chúng cầu khẩn danh của Ba-anh, và rằng: Hỡi Ba-anh! xin đáp lời chúng tôi. Nhưng chẳng có tiếng gì, cũng chẳng ai đáp lời; chúng đều nhảy chung quanh bàn thờ mình đã dựng lên.

:「。」

dào le zhèng wǔ , yǐ lì yà xī xiào tā men , shuō :「 dà shēng qiú gào ba ! yīn wèi tā shì shén , tā huò mò xiǎng , huò zǒu dào yì biān , huò xíng lù , huò shuì jiào , nǐ men dāng jiào xǐng tā 。」

Khi đã đến trưa, Ê-li nhạo chúng mà rằng: Khá la lớn lên đi, vì người là thần; hoặc người đang suy gẫm, hoặc ở đâu xa, hoặc đang đi đường; hay là có lẽ người ngủ, và sẽ thức dậy.

tā men dà shēng qiú gào , àn zhe tā men de guī jǔ , yòng dāo qiāng zì gē 、 zì cì , zhí dào shēn tǐ liú xuè 。

Vậy, chúng kêu lớn tiếng; và theo thói lệ họ, lấy gươm giáo gạch vào mình cho đến chừng máu chảy ra.

cóng wǔ hòu zhí dào xiàn wǎn jì de shí hòu , tā men kuáng hū luàn jiào , què méi yǒu shēng yīn , méi yǒu yīng yǔn de , yě méi yǒu lǐ huì de 。

Khi quá trưa rồi, họ cứ nói tiên tri như vậy cho đến giờ dâng của lễ chay ban chiều; nhưng vẫn không có tiếng gì, chẳng ai đáp lời, cũng không cố ý đến.

:「。」便

yǐ lì yà duì zhòng mín shuō :「 nǐ men dào wǒ zhè lǐ lái 。」 zhòng mín jiù dào tā nà lǐ 。 tā biàn chóng xiū yǐ jīng huǐ huài yē hé huá de tán 。

Bấy giờ, Ê-li nói với cả dân sự rằng: Hãy đến gần ta. Dân sự bèn đến gần người. Đoạn, Ê-li sửa lại cái bàn thờ của Đức Giê-hô-va bị phá hủy.

:「」),

yǐ lì yà zhào yǎ gè zǐ sūn zhī pài de shù mù , qǔ le shí èr kuài shí tou ( yē hé huá de huà céng lín dào yǎ gè shuō :「 nǐ de míng yào jiào yǐ sè liè 」),

Người lấy mười hai hòn đá, theo số mười hai chi phái của các con trai Gia-cốp, là người mà lời của Đức Giê-hô-va đã phán cho rằng: Y-sơ-ra-ên sẽ là tên ngươi.

yòng zhè xiē shí tou wèi yē hé huá de míng zhù yí zuò tán , zài tán de sì wéi wā gōu , kě róng gǔ zhǒng èr xì yà ,

Người dùng mười hai hòn đá ấy mà dựng lên một cái bàn thờ nhân danh Đức Giê-hô-va; chung quanh bàn thờ, người đào một cái mương đựng được hai đấu hột giống;

:「」;

yòu zài tán shàng bǎi hǎo le chái , bǎ niú dú qiè chéng kuài zǐ fàng zài chái shàng , duì zhòng rén shuō :「 nǐ men yòng sì gè tǒng shèng mǎn shuǐ , dǎo zài fán jì hé chái shàng 」;

rồi chất củi, sả bò tơ ra từ miếng, và sắp nó lên trên củi. Kế người nói:

:「。」:「。」

yòu shuō :「 dǎo dì èr cì 。」 tā men jiù dǎo dì èr cì ; yòu shuō :「 dǎo dì sān cì 。」 tā men jiù dǎo dì sān cì 。

Hãy múc đầy bốn bình nước, và đem đổ trên của lễ thiêu và củi. Người lại nói: Hãy làm lần thứ nhì; thì người ta làm lần thứ nhì. Người tiếp: Hãy làm lần thứ ba, và họ làm lần thứ ba,

shuǐ liú zài tán de sì wéi , gōu lǐ yě mǎn le shuǐ 。

cho đến đỗi nước chảy chung quanh bàn thờ, và đầy cái mương nữa.

:「 使

dào le xiàn wǎn jì de shí hòu , xiān zhī yǐ lì yà jìn qián lái , shuō :「 yà bó lā hǎn 、 yǐ sā 、 yǐ sè liè de shén , yē hé huá a , qiú nǐ jīn rì shǐ rén zhī dào nǐ shì yǐ sè liè de shén , yě zhī dào wǒ shì nǐ de pú rén , yòu shì fèng nǐ de mìng xíng zhè yí qiè shì 。

Đến giờ dâng của lễ chay ban chiều, tiên tri Ê-li đến gần và nguyện rằng: Lạy Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Aùp-ra-ham, của Y-sác, và của Y-sơ-ra-ên, ngày nay xin hãy tỏ cho người ta biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời trong Y-sơ-ra-ên, rằng tôi là kẻ tôi tớ Ngài, và tôi vâng lời Ngài mà làm mọi sự này.

使 。」

yē hé huá a , qiú nǐ yīng yǔn wǒ , yīng yǔn wǒ ! shǐ zhè mín zhī dào nǐ — yē hé huá shì shén , yòu zhī dào shì nǐ jiào zhè mín de xīn huí zhuǎn 。」

Đức Giê-hô-va ôi! Xin nhậm lời tôi, xin đáp lời tôi, hầu cho dân sự này nhìn biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, và Ngài khiến cho lòng họ trở lại.

yú shì , yē hé huá jiàng xià huǒ lái , shāo jìn fán jì 、 mù chái 、 shí tou 、 chén tǔ , yòu shāo gān gōu lǐ de shuǐ 。

Lửa của Đức Giê-hô-va bèn giáng xuống, thiêu đốt của lễ thiêu, củi, đá, bụi, và rút nước trong mương.

:「 !」

zhòng mín kàn jiàn le , jiù fǔ fú zài dì , shuō :「 yē hé huá shì shén ! yē hé huá shì shén !」

Thấy vậy, cả dân sự sấp mình xuống đất, và la rằng: Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!

:「!」

yǐ lì yà duì tā men shuō :「 ná zhù bā lì de xiān zhī , bù róng yì rén táo tuō !」 zhòng rén jiù ná zhù tā men 。 yǐ lì yà dài tā men dào jī shùn hé biān , zài nà lǐ shā le tā men 。

Ê-li nói với chúng rằng: Hãy bắt các tiên tri của Ba-anh, chớ cho thoát một người nào. Chúng bèn bắt họ, Ê-li đem họ xuống dưới khe Ki-sôn, và giết họ tại đó.

:「。」

yǐ lì yà duì yà hā shuō :「 nǐ xiàn zài kě yǐ shàng qù chī hē , yīn wèi yǒu duō yǔ de xiǎng shēng le 。」

Đoạn, Ê-li nói cùng A-háp rằng: Hãy đi lên, ăn và uống, vì tôi đã nghe tiếng mưa lớn.

yà hā jiù shàng qù chī hē 。 yǐ lì yà shàng le jiā mì shān dǐng , qū shēn zài dì , jiāng liǎn fú zài liǎng xī zhī zhōng ;

Vậy, A-háp trở lên đặng ăn uống. Nhưng Ê-li leo lên chót núi Cạt-mên, cúi xuống đất và úp mặt mình giữa hai đầu gối.

:「。」:「。」:「。」

duì pú rén shuō :「 nǐ shàng qù , xiàng hǎi guān kàn 。」 pú rén jiù shàng qù guān kàn , shuō :「 méi yǒu shén me 。」 tā shuō :「 nǐ zài qù guān kàn 。」 rú cǐ qī cì 。

Đoạn, người nói với kẻ tôi tớ mình rằng: Xin hãy đi lên, ngó về phía biển. Kẻ tôi tớ đi lên xem, nhưng nói rằng: Không có chi hết. Ê-li lại nói: Hãy trở lên bảy lần.

:「。」:「。」

dì qī cì pú rén shuō :「 wǒ kàn jiàn yǒu yì xiǎo piàn yún cóng hǎi lǐ shàng lái , bú guò rú rén shǒu nà yàng dà 。」 yǐ lì yà shuō :「 nǐ shàng qù gào sù yà hā , dāng tào chē xià qù , miǎn de bèi yǔ zǔ dǎng 。」

Lần thứ bảy, kẻ tôi tớ đáp rằng: Tôi thấy ở phía biển lên một cụm mây nhỏ như lòng bàn tay, Ê-li bèn tiếp: Hãy đi nói với A-háp rằng: Hãy thắng xe và đi xuống, kẻo mưa cầm vua lại chăng.

shà shí jiān , tiān yīn fēng yún hēi àn , jiàng xià dà yǔ 。 yà hā jiù zuò chē wǎng yē sī liè qù le 。

Trong một lúc, trời bị mây che đen, gió nổi dậy, và có cơn mưa rất lớn. A-háp bèn lên xe mình, đi đến Gít-rê-ên.

yē hé huá de líng jiàng zài yǐ lì yà shēn shàng , tā jiù shù shàng yāo , bēn zài yà hā qián tou , zhí dào yē sī liè de chéng mén 。

Tay Đức Giê-hô-va giáng trên Ê-li; người thắt lưng, chạy trước A-háp cho đến khi tới Gít-rê-ên.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.