中文圣经

I CÁC VUA 19

đã biết 0/247

yà hā jiāng yǐ lì yà yí qiè suǒ xíng de hé tā yòng dāo shā zhòng xiān zhī de shì dōu gào sù yē xǐ bié 。

A-háp thuật lại cho Giê-sa-bên mọi điều Ê-li đã làm, và người đã dùng gươm giết hết thảy tiên tri Ba-anh làm sao.

:「使。」

yē xǐ bié jiù chāi qiǎn rén qù jiàn yǐ lì yà , gào sù tā shuō :「 míng rì yuē zài zhè shí hòu , wǒ ruò bù shǐ nǐ de xìng mìng xiàng nà xiē rén de xìng mìng yí yàng , yuàn shén míng chóng chóng dì jiàng fá yǔ wǒ 。」

Giê-sa-bên sai một sứ giả đến Ê-li mà nói rằng: Nếu ngày mai trong giờ này, ta không xử mạng sống ngươi như mạng sống của một người trong chúng nó, nguyện các thần đãi ta cách nặng nề.

yǐ lì yà jiàn zhè guāng jǐng jiù qǐ lái táo mìng , dào le yóu dà de bié shì bā , jiāng pú rén liú zài nà lǐ ,

Vì vậy, Ê-li sợ hãi, đứng dậy chạy đi đặng cứu mạng sống mình. Đến tại Bê-e-Sê-ba, thuộc về Giu-đa, người để tôi tớ mình lại đó.

:「。」

zì jǐ zài kuàng yě zǒu le yí rì de lù chéng , lái dào yì kē luó téng shù xià , jiù zuò zài nà lǐ qiú sǐ , shuō :「 yē hé huá a , bà le ! qiú nǐ qǔ wǒ de xìng mìng , yīn wèi wǒ bú shèng yú wǒ de liè zǔ 。」

Còn người vào đồng vắng, đường đi ước một ngày, đến ngồi dưới cây giếng giêng, xin chết mà rằng: Oâi Đức Giê-hô-va! đã đủ rồi. Hãy cất lấy mạng sống tôi, vì tôi không hơn gì các tổ phụ tôi.

使:「!」

tā jiù tǎng zài luó téng shù xià , shuì zháo le 。 yǒu yí gè tiān shǐ pāi tā , shuō :「 qǐ lái chī ba !」

Đoạn, người nằm ngủ dưới cây giếng giêng. Có một thiên sứ đụng đến người và nói rằng: Hãy chổi dậy và ăn.

tā guān kàn , jiàn tóu páng yǒu yì píng shuǐ yǔ tàn huǒ shāo de bǐng , tā jiù chī le hē le , réng rán tǎng xià 。

Người nhìn thấy nơi đầu mình một cái bánh nhỏ nướng trên than, và một bình nước. Người ăn uống, rồi lại nằm.

使:「。」

yē hé huá de shǐ zhě dì èr cì lái pāi tā , shuō :「 qǐ lái chī ba ! yīn wèi nǐ dāng zǒu de lù shèn yuǎn 。」

Thiên sứ của Đức Giê-hô-va đến lần thứ nhì, đụng người và nói rằng: Hãy chổi dậy và ăn, vì đường xa quá cho ngươi. Vậy người chổi dậy, ăn và uống,

tā jiù qǐ lái chī le hē le , zhàng zhe zhè yǐn shí de lì , zǒu le sì shí zhòu yè , dào le shén de shān , jiù shì hé liè shān 。

rồi nhờ sức của lương thực ấy, người đi bốn mươi ngày và bốn mươi đêm cho đến Hô-rếp, là núi của Đức Chúa Trời.

:「?」

tā zài nà lǐ jìn le yí gè dòng , jiù zhù zài dòng zhōng 。 yē hé huá de huà lín dào tā shuō :「 yǐ lì yà a , nǐ zài zhè lǐ zuò shén me ?」

Đến nơi, người đi vào trong hang đá, ngủ đêm ở đó. Và kìa, có lời của Đức Giê-hô-va phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi ở đây làm chi?

:「 。」

tā shuō :「 wǒ wèi yē hé huá — wàn jūn zhī shén dà fā rè xīn ; yīn wèi yǐ sè liè rén bèi qì le nǐ de yuē , huǐ huài le nǐ de tán , yòng dāo shā le nǐ de xiān zhī , zhī shèng xià wǒ yí gè rén , tā men hái yào xún suǒ wǒ de mìng 。」

Người thưa rằng: Tôi đã rất nóng nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân; vì dân Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên tri Ngài; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng kiếm thế cất mạng sống tôi.

:「。」

yē hé huá shuō :「 nǐ chū lái zhàn zài shān shàng , zài wǒ miàn qián 。」 nà shí yē hé huá cóng nà lǐ jīng guò , zài tā miàn qián yǒu liè fēng dà zuò , bēng shān suì shí , yē hé huá què bú zài fēng zhōng ; fēng hòu dì zhèn , yē hé huá què bú zài qí zhōng ;

Đức Chúa Trời phán với người rằng: Hãy đi ra, đứng tại trên núi trước mặt Đức Giê-hô-va. Nầy Đức Giê-hô-va đi ngang qua, có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Ngài, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận gió. Sau trận gió có cơn động đất; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong cơn động đất.

dì zhèn hòu yǒu huǒ , yē hé huá yě bú zài huǒ zhōng ; huǒ hòu yǒu wēi xiǎo de shēng yīn 。

Sau cơn động đất có đám lửa; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.

:「?」

yǐ lì yà tīng jiàn , jiù yòng wài yī méng shàng liǎn , chū lái zhàn zài dòng kǒu 。 yǒu shēng yīn xiàng tā shuō :「 yǐ lì yà a , nǐ zài zhè lǐ zuò shén me ?」

Khi Ê-li vừa nghe tiếng đó, thì lấy áo tơi bao phủ mặt mình, đi ra đứng tại nơi miệng hang; này có một tiếng phán với người rằng: Hỡi Ê-li, ngươi làm chi đây?

:「 。」

tā shuō :「 wǒ wèi yē hé huá — wàn jūn zhī shén dà fā rè xīn ; yīn wèi yǐ sè liè rén bèi qì le nǐ de yuē , huǐ huài le nǐ de tán , yòng dāo shā le nǐ de xiān zhī , zhī shèng xià wǒ yí gè rén , tā men hái yào xún suǒ wǒ de mìng 。」

Người thưa rằng: Tôi rất nóng nảy sốt sắng vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân, vì dân Y-sơ-ra-ên đã bội giao ước của Ngài, phá hủy các bàn thờ Ngài, dùng gươm giết những tiên tri Ngài; chỉ một mình tôi còn lại, và họ cũng tìm cách cất mạng sống tôi.

:「

yē hé huá duì tā shuō :「 nǐ huí qù , cóng kuàng yě wǎng dà mǎ shì gé qù 。 dào le nà lǐ , jiù yào gāo hā xuē zuò yà lán wáng ,

Nhưng Đức Giê-hô-va đáp với người rằng: Hãy bắt con đường đồng vắng đi đến Đa-mách. Khi đến rồi, ngươi sẽ xức dầu cho Ha-xa-ên làm vua Sy-ri;

·

yòu gāo níng shì de sūn zi yē hù zuò yǐ sè liè wáng , bìng gāo yà bó · mǐ hé lā rén shā fǎ de ér zi yǐ lì shā zuò xiān zhī jiē xù nǐ 。

ngươi cũng sẽ xức dầu cho Giê-hu, con trai của Nim-si, làm vua Y-sơ-ra-ên; và ngươi sẽ xức dầu cho Ê-li-sê, con trai Sa-phát, ở A-bên-Mê-hô-la, làm tiên tri thế cho ngươi.

jiāng lái duǒ bì hā xuē zhī dāo de , bì bèi yē hù suǒ shā ; duǒ bì yē hù zhī dāo de , bì bèi yǐ lì shā suǒ shā 。

Ai thoát khỏi gươm của Ha-xa-ên sẽ bị Giê-hu giết; ai thoát khỏi gươm của Giê-hu sẽ bị Ê-li-sê giết.

。」

dàn wǒ zài yǐ sè liè rén zhōng wèi zì jǐ liú xià qī qiān rén , shì wèi céng xiàng bā lì qū xī de , wèi céng yǔ bā lì qīn zuǐ de 。」

Nhưng ta đã để dành lại cho ta trong Y-sơ-ra-ên bảy ngàn người không có quì gối xuống trước mặt Ba-anh, và môi họ chưa hôn nó.

yú shì , yǐ lì yà lí kāi nà lǐ zǒu le , yù jiàn shā fǎ de ér zi yǐ lì shā gēng dì ; zài tā qián tou yǒu shí èr duì niú , zì jǐ gǎn zhe dì shí èr duì 。 yǐ lì yà dào tā nà lǐ qù , jiāng zì jǐ de wài yī dā zài tā shēn shàng 。

Từ đó, Ê-li đi, gặp Ê-li-sê, con trai của Sa-phát đang cày có mười hai đôi bò trước mặt mình, chính người cầm đôi thứ mười hai. Ê-li đi ngang qua người, ném áo choàng mình trên người.

:「便。」:「?」

yǐ lì shā jiù lí kāi niú , pǎo dào yǐ lì yà nà lǐ , shuō :「 qiú nǐ róng wǒ xiān yǔ fù mǔ qīn zuǐ , rán hòu wǒ biàn gēn suí nǐ 。」 yǐ lì yà duì tā shuō :「 nǐ huí qù ba , wǒ xiàng nǐ zuò le shén me ne ?」

Ê-li-sê bèn bỏ bò mình, chạy theo Ê-li mà nói rằng: Xin cho phép tôi hôn cha và mẹ tôi đã, đoạn tôi sẽ theo ông. Ê-li đáp: Hãy đi và trở lại; vì ta nào có làm gì cho ngươi đâu.

yǐ lì shā jiù lí kāi tā huí qù , zǎi le yí duì niú , yòng tào niú de qì jù zhǔ ròu gěi mín chī , suí hòu jiù qǐ shēn gēn suí yǐ lì yà , fú shì tā 。

Ê-li-sê bèn lìa khỏi Ê-li trở về, bắt một đôi bò giết đi, và lấy cày làm củi mà nấu thịt nó, rồi cho các tôi tớ mình ăn. Đoạn, người đứng dậy, đi theo Ê-li, và hầu việc người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.