中文圣经

I SA-MU-ÊN 16

đã biết 0/219

:「西。」

yē hé huá duì sā mǔ ěr shuō :「 wǒ jì yàn qì sǎo luó zuò yǐ sè liè de wáng , nǐ wèi tā bēi shāng yào dào jǐ shí ne ? nǐ jiāng gāo yóu shèng mǎn le jiǎo , wǒ chāi qiǎn nǐ wǎng bó lì héng rén yē xī nà lǐ qù ; yīn wèi wǒ zài tā zhòng zǐ zhī nèi , yù dìng yí gè zuò wáng de 。」

Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên rằng: Ngươi buồn rầu về việc Sau-lơ cho đến chừng nào? Ta đã từ bỏ nó, hầu cho nó không còn làm vua trên Y-sơ-ra-ên nữa. Hãy đổ dầu đầy sừng của ngươi và đi. Ta sẽ sai ngươi đến Y-sai, người Bết-lê-hem. vì trong vòng các con trai người, ta đã chọn một người làm vua.

:「。」:「:『。』

sā mǔ ěr shuō :「 wǒ zěn néng qù ne ? sǎo luó ruò tīng jiàn , bì yào shā wǒ 。」 yē hé huá shuō :「 nǐ kě yǐ dài yì zhī niú dú qù , jiù shuō :『 wǒ lái shì yào xiàng yē hé huá xiàn jì 。』

Sa-mu-ên thưa rằng: g: àm sao tôi đii đó được? Nếu Sau-lơ hay, thì sẽ giết tôi đi. Đức Giê-hô-va phán cùng người rằng: Hãy đem theo ngggggggơi một con bò cái tơ, và nói rằng: Tôi đến để dâng của tế lễ cho Đức Giê-hô-va.

西。」

nǐ yào qǐng yē xī lái chī jì ròu , wǒ jiù zhǐ shì nǐ suǒ dāng xíng de shì 。 wǒ suǒ zhǐ gěi nǐ de rén , nǐ yào gāo tā 。」

Ngươi sẽ mời Y-sai dự tế. Ta sẽ tỏ cho ngươi biết điều ngươi phải làm; rồi ngươi sẽ nhân danh ta xức dầu kẻ ta chỉ cho ngươi.

:「?」

sā mǔ ěr jiù zhào yē hé huá de huà qù xíng 。 dào le bó lì héng , nà chéng lǐ de zhǎng lǎo dōu zhàn zhàn jīng jīng dì chū lái yíng jiē tā , wèn tā shuō :「 nǐ shì wèi píng ān lái de ma ?」

Sa-mu-ên làm theo điều Đức Giê-hô-va đã phán cùng mình, và đi đến Bết-lê-hem. Những trưởng lão của thành ấy đều lấy làm bối rối, chạy đón người, mà hỏi rằng: Có phải ông đến đem bình an chăng? Người đáp rằng: Bình an.

:「。」使西

tā shuō :「 wèi píng ān lái de , wǒ shì gěi yē hé huá xiàn jì 。 nǐ men dāng zì jié , lái yǔ wǒ tóng chī jì ròu 。」 sā mǔ ěr jiù shǐ yē xī hé tā zhòng zǐ zì jié , qǐng tā men lái chī jì ròu 。

Ta đến để dâng của tế lễ cho Đức Giê-hô-va; hãy dọn mình thanh sạch và đến ăn thịt tế lễ với ta. Người cũng dọn Y-sai và các con trai người cho thanh sạch và mời đến dự tế.

tā men lái de shí hòu , sā mǔ ěr kàn jiàn yǐ lì yā , jiù xīn lǐ shuō , yē hé huá de shòu gāo zhě bì dìng zài tā miàn qián 。

Khi chúng đến, Sa-mu-ên thấy Ê-li-áp, bèn thầm rằng: Quả hẳn, kẻ chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va đang ở trước mặt Ngài.

:「。」

yē hé huá què duì sā mǔ ěr shuō :「 bú yào kàn tā de wài mào hé tā shēn cái gāo dà , wǒ bù jiǎn xuǎn tā 。 yīn wèi , yē hé huá bú xiàng rén kàn rén : rén shì kàn wài mào ; yē hé huá shì kàn nèi xīn 。」

Nhưng Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên rằng; Chớ xem về bộ dạng và hình vóc cao lớn của nó, vì ta đã bỏ nó. Đức Giê-hô-va chẳng xem điều gì loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng.

西:「。」

yē xī jiào yà bǐ ná dá cóng sā mǔ ěr miàn qián jīng guò , sā mǔ ěr shuō :「 yē hé huá yě bù jiǎn xuǎn tā 。」

Y-sai bèn gọi A-bi-na-đáp, và biểu người đi qua trước mặt Sa-mu-ên; nhưng Sa-mu-ên nói: Đức Giê-hô-va cũng chẳng chọn người nầy. Y-sai biểu Sam-ma đi qua,

西:「。」

yē xī yòu jiào shā mǎ cóng sā mǔ ěr miàn qián jīng guò , sā mǔ ěr shuō :「 yē hé huá yě bù jiǎn xuǎn tā 。」

nhưng Sa-mu-ên nói: Đức Giê-hô-va cũng không chọn người nầy nữa.

西:「。」

yē xī jiào tā qī gè ér zi dōu cóng sā mǔ ěr miàn qián jīng guò , sā mǔ ěr shuō :「 zhè dōu bú shì yē hé huá suǒ jiǎn xuǎn de 。」

Y-sai biểu bảy con trai mình đi qua trước mặt Sa-mu-ên như vậy; thì Sa-mu-ên nói cùng Y-sai rằng: Đức Giê-hô-va chẳng chọn một ai trong chúng nó.

西:「?」:「。」西:「。」

sā mǔ ěr duì yē xī shuō :「 nǐ de ér zi dōu zài zhè lǐ ma ?」 tā huí dá shuō :「 hái yǒu gè xiǎo de , xiàn zài fàng yáng 。」 sā mǔ ěr duì yē xī shuō :「 nǐ dǎ fā rén qù jiào tā lái ; tā ruò bù lái , wǒ men bì bú zuò xí 。」

Đoạn, Sa-mu-ên nói cùng Y-sai rằng: Hết thảy con trai ngươi là đó sao? Y-sai đáp rằng: Hãy còn đứa con út, nhưng nó đi chăn chiên. Sa-mu-ên nói: Hãy sai gọi nó; chúng ta không ngồi ăn trước khi nó đến.

西:「。」

yē xī jiù dǎ fā rén qù jiào le tā lái 。 tā miàn sè guāng hóng , shuāng mù qīng xiù , róng mào jùn měi 。 yē hé huá shuō :「 zhè jiù shì tā , nǐ qǐ lái gāo tā 。」

Vậy, Y-sai sai gọi người. Mặt người hồng hồng, con mắt xinh lịch, và hình dung tốt đẹp. Đức Giê-hô-va phán cùng Sa-mu-ên rằng: Aáy là nó; hãy đứng dậy xức dầu cho nó.

sā mǔ ěr jiù yòng jiǎo lǐ de gāo yóu , zài tā zhū xiōng zhōng gāo le tā 。 cóng zhè rì qǐ , yē hé huá de líng jiù dà dà gǎn dòng dà wèi 。 sā mǔ ěr qǐ shēn huí lā mǎ qù le 。

Sa-mu-ên lấy sừng dầu, xức cho người ở giữa các anh người. Từ ngày đó về sau, Thần của Đức Giê-hô-va cảm động Đa-vít. Sa-mu-ên đứng dậy đi về Ra-ma.

yē hé huá de líng lí kāi sǎo luó , yǒu è mó cóng yē hé huá nà lǐ lái rǎo luàn tā 。

Thần của Đức Giê-hô-va lìa khỏi Sau-lơ; Đức Giê-hô-va bèn khiến một ác thần khuấy khuất người.

:「

sǎo luó de chén pú duì tā shuō :「 xiàn zài yǒu è mó cóng shén nà lǐ lái rǎo luàn nǐ 。

Tôi tớ của Sau-lơ nói cùng người rằng: Nầy có một ác thần mà Đức Chúa Trời khiến đến khuấy khuất vua.

使。」

wǒ men de zhǔ kě yǐ fēn fù miàn qián de chén pú , zhǎo yí gè shàn yú tán qín de lái , děng shén nà lǐ lái de è mó lín dào nǐ shēn shàng de shí hòu , shǐ tā yòng shǒu tán qín , nǐ jiù hǎo le 。」

Xin chúa chúng tôi hãy biểu những tôi tớ đứng chầu chúa tìm một người biết gảy đàn, để khi nào Đức Chúa Trời sai ác thần đến chúa, thì người đó sẽ gảy đàn, và chúa sẽ được an ủi.

:「。」

sǎo luó duì chén pú shuō :「 nǐ men kě yǐ wéi wǒ zhǎo yí gè shàn yú tán qín de , dài dào wǒ zhè lǐ lái 。」

Sau-lơ đáp cùng các tôi tớ mình rằng; Vậy, hãy tìm cho ta một người gảy đàn hay, rồi dẫn nó đến cùng ta.

:「西。」

qí zhōng yǒu yí gè shào nián rén shuō :「 wǒ céng jiàn bó lì héng rén yē xī de yí gè ér zi shàn yú tán qín , shì dà yǒu yǒng gǎn de zhàn shì , shuō huà hé yí , róng mào jùn měi , yē hé huá yě yǔ tā tóng zài 。」

Một người trong vòng tôi tớ cất tiếng nói rằng: Nầy tôi đã thấy một con trai của Y-sai, người Bết-lê-hem; nó gảy đàn hay, một người chiến sĩ mạnh bạo, ăn nói khôn ngoan, và mặt mày tốt đẹp; Đức Giê-hô-va ở cùng người.

使西:「。」

yú shì sǎo luó chāi qiǎn shǐ zhě qù jiàn yē xī , shuō :「 qǐng nǐ dǎ fā nǐ fàng yáng de ér zi dà wèi dào wǒ zhè lǐ lái 。」

Sau-lơ sai sứ đến Y-sai, mà nói rằng: Hãy gởi cho ta Đa-vít, con trai ngươi, là kẻ chăn chiên.

西

yē xī jiù bǎ jǐ gè bǐng hé yì pí dài jiǔ , bìng yì zhī shān yáng gāo , dōu tuó zài lǘ shàng , jiāo gěi tā ér zi dà wèi , sòng yǔ sǎo luó 。

Y-sai bèn lấy bánh, một bầu da rượu, một con dê con còn bú, chất trên một con lừa, rồi nhờ Đa-vít con trai mình, gởi cho Sau-lơ.

dà wèi dào le sǎo luó nà lǐ , jiù shì lì zài sǎo luó miàn qián 。 sǎo luó shèn xǐ ài tā , tā jiù zuò le sǎo luó ná bīng qì de rén 。

Đa-vít đến nơi Sau-lơ, bèn ra mắt người. Sau-lơ thương yêu người lắm, đặt người làm kẻ vác binh khí mình.

西:「。」

sǎo luó chāi qiǎn rén qù jiàn yē xī , shuō :「 qiú nǐ róng dà wèi shì lì zài wǒ miàn qián , yīn wèi tā zài wǒ yǎn qián méng le ēn 。」

Người sai đi nói cùng Y-sai rằng: Ta xin ngươi hãy cho Đa-vít đứng chầu chực ta; vì nó được ơn trước mặt ta.

便

cóng shén nà lǐ lái de è mó lín dào sǎo luó shēn shàng de shí hòu , dà wèi jiù ná qín , yòng shǒu ér tán , sǎo luó biàn shū chàng shuǎng kuài , è mó lí le tā 。

Vậy, khi Đức Chúa Trời khiến ác thần nhập vào Sau-lơ, thì Đa-vít lấy đàn và gảy. Sau-lơ bèn được an ủi, lành mạnh, và ác thần lìa khỏi người.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.