中文圣经

II LỊCH SỬ 34

đã biết 0/336

西

yuē xī yà dēng jī de shí hòu nián bā suì , zài yē lù sā lěng zuò wáng sān shí yī nián 。

Giô-si-a được tám tuổi khi người lên ngôi làm vua, và cai trị ba mươi mốt năm tại Giê-ru-sa-lem.

tā xíng yē hé huá yǎn zhōng kàn wèi zhèng de shì , xiào fǎ tā zǔ dà wèi suǒ xíng de , bù piān zuǒ yòu 。

Người làm điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va, và đi theo con đường của Đa-vít, tổ phụ người, không xây về bên hữu hay là bên tả.

tā zuò wáng dì bā nián , shàng qiě nián yòu , jiù xún qiú tā zǔ dà wèi de shén 。 dào le shí èr nián cái jié jìng yóu dà hé yē lù sā lěng , chú diào qiū tán 、 mù ǒu 、 diāo kè de xiàng , hé zhù zào de xiàng 。

Năm thứ tám đời người trị vì, khi người hãy còn trẻ tuổi, thì người khởi tìm kiếm Đức Chúa Trời của Đa-vít, tổ phụ người; năm thứ mười hai, người khởi dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, trừ bỏ những nơi cao, thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc.

zhòng rén zài tā miàn qián chāi huǐ bā lì de tán , kǎn duàn tán shàng gāo gāo de rì xiàng , yòu bǎ mù ǒu hé diāo kè de xiàng , bìng zhù zào de xiàng dǎ suì chéng huī , sā zài jì ǒu xiàng rén de fén shàng ,

Trước mặt vua, người ta phá dỡ các bàn thờ Ba-anh, đánh đổ những trụ thờ mặt trời ở trên cao bàn thờ ấy; còn thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc, thì bẻ gãy, nghiền nát nó ra, rồi rải trên mồ mả của những kẻ đã cúng tế nó.

jiāng tā men jì sī de hái gǔ shāo zài tán shàng , jié jìng le yóu dà hé yē lù sā lěng ;

Người cũng thiêu hài cốt của những thầy tế lễ tại trên bàn thờ các thần ấy, và dọn sạch Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

西西

yòu zài mǎ ná xī 、 yǐ fǎ lián 、 xī miǎn 、 ná fú tā lì gè chéng , hé sì wéi pò huài zhī chù , dōu zhè yàng xíng ;

Trong các thành của Ma-na-se, của Eùp-ra-im, và của Si-mê-ôn, cho đến Nép-ta-li khắp chung quanh các nơi đổ nát,

yòu chāi huǐ jì tán , bǎ mù ǒu hé diāo kè de xiàng dǎ suì chéng huī , kǎn duàn yǐ sè liè biàn dì suǒ yǒu de rì xiàng , jiù huí yē lù sā lěng qù le 。

người phá dỡ các bàn thờ và nghiền nát ra bụi những thần A-sê-ra, tượng chạm và tượng đúc, đánh đổ các trụ thờ mặt trời ở trong khắp xứ Y-sơ-ra-ên; rồi người trở về Giê-ru-sa-lem.

西殿西 殿

yuē xī yà wáng shí bā nián , jìng dì jìng diàn zhī hòu , jiù chāi qiǎn yà sà lì yǎ de ér zi shā fān 、 yì zǎi mǎ xī yǎ 、 yuē hā sī de ér zi shǐ guān yuē yà qù xiū lǐ yē hé huá — tā shén de diàn 。

Năm thứ mười tám đời người trị vì, sau khi đã dọn sạch xứ và đền thờ rồi, thì người sai Sa-phan, con trai A-sa-lia, Ma-a-xê-gia, quan cai thành, và Giô-a, con trai Giô-a-cha, quan thái sử, đặng sửa sang đền của Giê-hô-va Đức Chúa Trời người.

殿殿西便

tā men jiù qù jiàn dà jì sī xī lè jiā , jiāng fèng dào shén diàn de yín zi jiāo gěi tā ; zhè yín zi shì kān shǒu diàn mén de lì wèi rén cóng mǎ ná xī 、 yǐ fǎ lián , hé yí qiè yǐ sè liè shèng xià de rén , yǐ jí yóu dà 、 biàn yǎ mǐn zhòng rén , bìng yē lù sā lěng de jū mín shōu lái de 。

Các người ấy đi đến cùng Hinh-kia, thầy tế lễ thượng phẩm, giao cho người tiền bạc đã đem vào đền Đức Chúa Trời, tức tiền bạc mà người Lê-vi, kẻ giữ cửa, đã nhận nơi tay người Ma-na-se, người Eùp-ra-im, và nơi những kẻ còn sót lại trong Y-sơ-ra-ên, cùng nhận nơi cả Giu-đa, Bên-gia-min và những dân cư thành Giê-ru-sa-lem.

殿殿

yòu jiāng zhè yín zǐ jiāo gěi yē hé huá diàn lǐ dū gōng de , zhuǎn jiāo xiū lǐ yē hé huá diàn de gōng jiàng ,

Chúng giao bạc ấy nơi tay những người coi sóc công việc của đền Đức Giê-hô-va; họ phát cho các thợ đặng tu bổ, sửa sang đền thờ:

殿

jiù shì jiāo gěi mù jiàng 、 shí jiàng , mǎi záo chéng de shí tou hé jià mù yǔ dòng liáng , xiū yóu dà wáng suǒ huǐ huài de diàn 。

tức giao cho thợ mộc, thợ xây đặng mua đá đẽo, cây gỗ để ráp nối, và làm sườn cho các nhà thuộc về đền mà các vua Giu-đa đã phá hủy.

zhè xiē rén bàn shì chéng shí , dū gōng de shì lì wèi rén mǐ lā lì de zǐ sūn yǎ hā 、 é bā dǐ ; dū cuī de shì gē xiá de zǐ sūn sā jiā lì yà 、 mǐ shū lán ; hái yǒu shàn yú zuò lè de lì wèi rén 。

Các thợ ấy đều làm công việc cách thành tâm. Kẻ quản đốc các thợ ấy là Gia-hát và Ô-ba-đia, hai người Lê-vi thuộc về dòng Mê-ra-ri; Xa-cha-ri và Mê-su-lam về dòng Kê-hát, cùng mấy người Lê-vi khác, đánh nhạc khí giỏi.

tā men yòu jiān guǎn káng tái de rén , dū cuī yí qiè zuò gōng de 。 lì wèi rén zhōng yě yǒu zuò shū jì 、 zuò sī shì 、 zuò shǒu mén de 。

Chúng cũng quản đốc kẻ khiêng gánh, và coi sóc những người làm đủ mọi thứ công việc; còn những ký lục, quan cai và kẻ canh cửa đều là người Lê-vi.

殿西

tā men jiāng fèng dào yē hé huá diàn de yín zi yùn chū lái de shí hòu , jì sī xī lè jiā ǒu rán dé le mó xī suǒ chuán yē hé huá de lǜ fǎ shū 。

Khi người ta đem bạc đã đem vào đền Đức Giê-hô-va ra, thì Hinh-kia, thầy tế lễ, tìm được cuốn sách luật pháp của Đức Giê-hô-va truyền lại bởi Môi-se.

:「殿。」

xī lè jiā duì shū jì shā fān shuō :「 wǒ zài yē hé huá diàn lǐ dé le lǜ fǎ shū 。」 suì jiāng shū dì gěi shā fān 。

Hinh-kia cất tiếng lên nói với thơ ký Sa-phan rằng: Ta có tìm được cuốn sách luật pháp ở trong đền của Đức Giê-hô-va. Rồi Hinh-kia giao sách ấy cho Sa-phan.

:「

shā fān bǎ shū ná dào wáng nà lǐ , huí fù wáng shuō :「 fán jiāo gěi pú rén men bàn de dōu bàn lǐ le 。

Sa-phan đem sách đó cho vua; rồi người cũng tâu với vua rằng: Mọi việc giao nơi tay các tôi tớ vua thì họ đang làm.

殿。」

yē hé huá diàn lǐ de yín zi dǎo chū lái , jiāo gěi dū gōng de hé jiàng rén de shǒu lǐ le 。」

Chúng đã lấy bạc tìm được trong đền Đức Giê-hô-va ra, và đã giao nơi tay các đốc công và những người làm công việc.

:「。」

shū jì shā fān yòu duì wáng shuō :「 jì sī xī lè jiā dì gěi wǒ yí juàn shū 。」 shā fān jiù zài wáng miàn qián dú nà shū 。

Thơ ký Sa-phan lại tâu với vua rằng: Thầy tế lễ Hinh-kia có trao cho tôi một cuốn sách. Sa-phan bèn đọc tại trước mặt vua.

wáng tīng jiàn lǜ fǎ shàng de huà , jiù sī liè yī fu ,

Xảy khi vua nghe các lời luật pháp rồi, thì xé áo mình.

fēn fù xī lè jiā yǔ shā fān de ér zi yà xī gān 、 mǐ jiā de ér zi yà bǐ dùn 、 shū jì shā fān , hé wáng de chén pú yà sā yǎ shuō :

Vua truyền lịnh cho Hinh-kia, A-hi-cam, con trai của Sa-phan, Aùp-đôn, con trai của Mi-ca, Sa-phan, thơ ký, và A-sa-gia, quan cận thần vua, mà rằng:

。」

「 nǐ men qù wèi wǒ 、 wèi yǐ sè liè hé yóu dà shèng xià de rén , yǐ zhè shū shàng de huà qiú wèn yē hé huá ; yīn wǒ men liè zǔ méi yǒu zūn shǒu yē hé huá de yán yǔ , méi yǒu zhào zhè shū shàng suǒ jì de qù xíng , yē hé huá de liè nù jiù dǎo zài wǒ men shēn shàng 。」

Hãy vì ta, vì các người Y-sơ-ra-ên và vì người Giu-đa còn sót lại, mà đi cầu vấn Đức Giê-hô-va về các lời phán của sách này đã tìm lại được vì cơn giận của Đức Giê-hô-va đã giáng trên chúng ta thật lớn thay, bởi các tổ phụ ta không gìn giữ lời phán của Đức Giê-hô-va, và chẳng làm theo các điều đã chép trong sách này.

yú shì , xī lè jiā hé wáng suǒ pài de zhòng rén dōu qù jiàn nǚ xiān zhī hù lè dà 。 hù lè dà shì zhǎng guǎn lǐ fú shā lóng de qī , shā lóng shì hā sī lā de sūn zi 、 tè wǎ de ér zi 。 hù lè dà zhù zài yē lù sā lěng dì èr qū ; tā men qǐng wèn yú tā 。

Hinh-kia và các kẻ vua sai đi đến Hun-đa, nữ tiên tri, vợ của Sa-lum, là người giữ áo lễ, con trai của Tô-cát, cháu Hát-ra; bà ở tại Giê-ru-sa-lem trong quận thứ nhì; chúng nói với bà theo các lời vua đã phán.

:「 :『

tā duì tā men shuō :「 yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō :『 nǐ men kě yǐ huí fù nà chāi qiǎn nǐ men lái jiàn wǒ de rén shuō ,

Bà bèn nói với chúng rằng: Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Hãy nói cùng người đã sai các ngươi đến cùng ta rằng:

yē hé huá rú cǐ shuō : wǒ bì zhào zhe zài yóu dà wáng miàn qián suǒ dú nà shū shàng de yí qiè zhòu zǔ , jiàng huò yǔ zhè dì hé qí shàng de jū mín ;

Đức Giê-hô-va phán như vầy: nầy ta sẽ khiến các tai vạ giáng trên chỗ này và trên dân ở chỗ này, tức là các sự rủa sả chép trong sách mà người ta đã đọc trước mặt vua Giu-đa.

忿。』

yīn wèi tā men lí qì wǒ , xiàng bié shén shāo xiāng , yòng tā men shǒu suǒ zuò de rě wǒ fā nù , suǒ yǐ wǒ de fèn nù rú huǒ dǎo zài zhè dì shàng , zǒng bù xī miè 。』

Bởi vì chúng đã lìa bỏ ta, xông hương cho các tà thần, lấy các công việc tay chúng nó làm mà chọc giận ta; nên cơn thạnh nộ ta sẽ đổ ra trên chỗ này, không hề nguôi.

:『

rán ér chà qiǎn nǐ men lái qiú wèn yē hé huá de yóu dà wáng , nǐ men yào zhè yàng huí fù tā shuō :『 yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō : zhì yú nǐ suǒ tīng jiàn de huà ,

Còn vua Giu-đa đã sai các ngươi đi cầu vấn Đức Giê-hô-va, các ngươi hãy nói cho người như vầy: Về các lời ngươi đã nghe, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy:

便

jiù shì tīng jiàn wǒ zhǐ zhe zhè dì hé qí shàng jū mín suǒ shuō de huà , nǐ biàn xīn lǐ jìng fú , zài wǒ miàn qián zì bēi , sī liè yī fú , xiàng wǒ kū qì , yīn cǐ wǒ yīng yǔn le nǐ 。 zhè shì wǒ — yē hé huá shuō de 。

Khi ngươi nghe lời ta phán nghịch cùng chỗ này, và nghịch cùng dân cư nó, thì ngươi có lòng mềm mại, hạ mình xuống trước mặt ta, xé áo ngươi, và khóc lóc tại trước mặt ta; bởi vậy cho nên ta cũng có nghe ngươi.

使。』」

wǒ bì shǐ nǐ píng píng ān ān dì guī dào fén mù , dào nǐ liè zǔ nà lǐ , wǒ yào jiàng yǔ zhè dì hé qí shàng jū mín de yí qiè zāi huò , nǐ yě bú zhì qīn yǎn kàn jiàn 。』」 tā men jiù huí fù wáng qù le 。

Kìa, ta sẽ khiến ngươi về cùng tổ phụ ngươi, ngươi sẽ được chôn bình an, và mắt ngươi sẽ chẳng thấy các tai vạ ta toan giáng xuống trên chốn này cùng trên dân cư nó. Chúng bèn tâu lại cho vua những lời ấy.

wáng chāi qiǎn rén zhāo jù yóu dà hé yē lù sā lěng de zhòng zhǎng lǎo lái 。

Vua bèn sai người nhóm các trưởng lão Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.

殿殿

wáng hé yóu dà zhòng rén , yǔ yē lù sā lěng de jū mín , bìng jì sī lì wèi rén , yǐ jí suǒ yǒu de bǎi xìng , wú lùn dà xiǎo , dōu yì tóng shàng dào yē hé huá de diàn ; wáng jiù bǎ diàn lǐ suǒ dé de yuē shū niàn gěi tā men tīng 。

Đoạn, vua đi lên đền Đức Giê-hô-va, có hết thảy người Giu-đa, dân cư Giê-ru-sa-lem, những thầy tế lễ, người Lê-vi, và cả dân sự, từ nhỏ đến lớn, đều đi theo người; người đọc cho chúng nghe các lời của sách giao ước đã tìm được trong đền của Đức Giê-hô-va,

wáng zhàn zài tā de dì wèi shàng , zài yē hé huá miàn qián lì yuē , yào jìn xīn jìn xìng dì shùn cóng yē hé huá , zūn shǒu tā de jiè mìng 、 fǎ dù 、 lǜ lì , chéng jiù zhè shū shàng suǒ jì de yuē yán ;

Vua đứng tại chỗ mình, lập giao ước trước mặt Đức Giê-hô-va, hứa đi theo Đức Giê-hô-va, hết lòng hết ý gìn giữ các điều răn, chứng cớ, và luật lệ của Ngài, đặng làm trọn lời giao ước đã chép trong sách ấy.

使便

yòu shǐ zhù yē lù sā lěng hé biàn yǎ mǐn de rén dōu fú cóng zhè yuē 。 yú shì yē lù sā lěng de jū mín dōu zūn xíng tā men liè zǔ zhī shén de yuē 。

Người cũng khiến những người ở Giê-ru-sa-lem và Bên-gia-min ưng theo giao ước ấy. Vậy, dân cư Giê-ru-sa-lem đều làm theo giao ước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ.

西使 西

yuē xī yà cóng yǐ sè liè gè chù jiāng yí qiè kě zēng zhī wù jìn dōu chú diào , shǐ yǐ sè liè jìng nèi de rén dōu shì fèng yē hé huá — tā men de shén 。 yuē xī yà zài shì de rì zi , jiù gēn cóng yē hé huá — tā men liè zǔ de shén , zǒng bù lí kāi 。

Giô-si-a cất hết thảy sự gớm ghiếc khỏi các xứ thuộc về dân Y-sơ-ra-ên, và buộc hết thảy những người ở xứ Y-sơ-ra-ên phải phục sự Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Trọn đời Giô-si-a, chúng hằng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, chẳng lìa bỏ Ngài.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.