中文圣经

II CÁC VUA 6

đã biết 0/300

:「

xiān zhī mén tú duì yǐ lì shā shuō :「 kàn nǎ , wǒ men tóng nǐ suǒ zhù de dì fāng guò yú zhǎi xiǎo ,

Các môn đồ của những tiên tri nói với Ê-li-sê rằng: Nơi chúng tôi ở trước mặt thầy là hẹp quá cho chúng tôi.

。」:「!」

qiú nǐ róng wǒ men wǎng yuē dàn hé qù , gè rén cóng nà lǐ qǔ yì gēn mù liào jiàn zào fáng wū jū zhù 。」 tā shuō :「 nǐ men qù ba !」

Xin để chúng tôi đi đến Giô-đanh, ai nấy sẽ đốn một cây đòn tay, rồi tại đó cất một nơi ở cho chúng tôi. Ê-li-sê đáp: Hãy đi.

:「。」:「。」

yǒu yì rén shuō :「 qiú nǐ yǔ pú rén tóng qù 。」 huí dá shuō :「 wǒ kě yǐ qù 。」

Một người tiếp rằng; Tôi xin thầy hãy đi cùng các tôi tớ thầy. Người đáp:

yú shì yǐ lì shā yǔ tā men tóng qù 。 dào le yuē dàn hé , jiù kǎn fá shù mù 。

Ta sẽ đi. Vậy, người đi với họ. Đến Giô-đanh, họ khởi đốn cây.

:「。」

yǒu yì rén kǎn shù de shí hòu , fǔ tóu diào zài shuǐ lǐ , tā jiù hū jiào shuō :「 āi zāi ! wǒ zhǔ a , zhè fǔ zǐ shì jiè de 。」

Nhưng có một người đang đốn cây, cái lưỡi rìu văng xuống nước. người la lên rằng: ù chúa tôi! than ôi! tôi có mượn nó!

:「?」

shén rén wèn shuō :「 diào zài nǎ lǐ le ?」 tā jiāng nà dì fāng zhǐ gěi yǐ lì shā kàn 。 yǐ lì shā kǎn le yì gēn mù tou , pāo zài shuǐ lǐ , fǔ tóu jiù piāo shàng lái le 。

Người của Đức Chúa Trời hỏi rằng: Nó rớt ở đâu? Người chỉ chỗ cho. Ê-li-sê bèn chặt một khúc cây quăng xuống tại chỗ đó, làm cho lưỡi rìu nổi lên,

:「!」

yǐ lì shā shuō :「 ná qǐ lái ba !」 nà rén jiù shēn shǒu ná qǐ lái le 。

và biểu người ấy rằng: Hãy lấy nó đi. Người ấy bèn giơ tay ra và lấy nó.

:「。」

yà lán wáng yǔ yǐ sè liè rén zhēng zhàn , hé tā de chén pú shāng yì shuō :「 wǒ yào zài mǒu chù mǒu chù ān yíng 。」

Vả, vua Sy-ri giao chiến với Y-sơ-ra-ên; người thương nghị với các tôi tớ mình, mà rằng: Ta sẽ đóng trại ta tại nơi nọ nơi kia.

:「。」

shén rén dǎ fā rén qù jiàn yǐ sè liè wáng , shuō :「 nǐ yào jǐn shèn , bú yào cóng mǒu chù jīng guò , yīn wèi yà lán rén cóng nà lǐ xià lái le 。」

Người của Đức Chúa Trời bèn sai nói với vua Y-sơ-ra-ên rằng; Khá giữ lấy, chớ đi ngang qua chỗ kia, vì dân Sy-ri phục tại đó.

yǐ sè liè wáng chà rén qù kuī tàn shén rén suǒ gào sù suǒ jǐng jiè tā qù de dì fāng , jiù fáng bèi wèi shòu qí hài , bù zhǐ yì liǎng cì 。

Vậy, vua Y-sơ-ra-ên sai người đến nơi mà người Đức Chúa Trời đã chỉ cho mình và bảo trước; người giữ lấy mình tại đó, chẳng những một hai lần.

:「?」

yà lán wáng yīn zhè shì xīn lǐ jīng yí , zhào le chén pú lái , duì tā men shuō :「 wǒ men zhè lǐ yǒu shuí bāng zhù yǐ sè liè wáng , nǐ men bù zhǐ gěi wǒ ma ?」

Lòng vua Sy-ri bối rối về sự ấy, bèn gọi các tôi tớ mình, mà nói rằng; Các ngươi há không tỏ cho ta, ai trong chúng ta là người giúp đỡ vua Y-sơ-ra-ên?

:「。」

yǒu yí gè chén pú shuō :「 wǒ zhǔ , wǒ wáng ! wú rén bāng zhù tā , zhǐ yǒu yǐ sè liè zhōng de xiān zhī yǐ lì shā , jiāng wáng zài wò fáng suǒ shuō de huà gào sù yǐ sè liè wáng le 。」

Một người trong những tôi tớ thưa rằng: Oâi vua chúa tôi! chẳng ai trong chúng tôi hết; nhưng Ê-li-sê, tiên tri trong Y-sơ-ra-ên, tỏ cho vua Y-sơ-ra-ên biết các lời vua nói trong phòng ngủ mình.

:「。」:「。」

wáng shuō :「 nǐ men qù tàn tā zài nǎ lǐ , wǒ hǎo dǎ fā rén qù zhuō ná tā 。」 yǒu rén gào sù wáng shuō :「 tā zài duō tān 。」

Vua bèn bảo rằng: Hãy đi xem người ở đâu, để ta sai bắt người. Có người đến thuật cho vua rằng: Kìa, người ở tại Đô-than.

wáng jiù dǎ fā chē mǎ hé dà jūn wǎng nà lǐ qù , yè jiān dào le , wéi kùn nà chéng 。

Vì vậy, vua sai ngựa, xe, và một đạo binh rất đông đến Đô-than; họ tới nơi lúc ban đêm, và vây thành.

:「?」

shén rén de pú rén qīng zǎo qǐ lái chū qù , kàn jiàn chē mǎ jūn bīng wéi kùn le chéng 。 pú rén duì shén rén shuō :「 āi zāi ! wǒ zhǔ a , wǒ men zěn yàng xíng cái hǎo ne ?」

Tôi tớ của người Đức Chúa Trời chổi dậy sáng sớm đi ra, thấy một đạo binh cùng ngựa và xe đang vây thành. Người nói với Ê-li-sê rằng: Hỡi ôi! chúa, chúng ta sẽ làm sao?

:「。」

shén rén shuō :「 bú yào jù pà ! yǔ wǒ men tóng zài de bǐ yǔ tā men tóng zài de gèng duō 。」

Ê-li-sê đáp rằng: Chớ sợ, những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với chúng nó.

:「使。」

yǐ lì shā dǎo gào shuō :「 yē hé huá a , qiú nǐ kāi zhè shào nián rén de yǎn mù , shǐ tā néng kàn jiàn 。」 yē hé huá kāi tā de yǎn mù , tā jiù kàn jiàn mǎn shān yǒu huǒ chē huǒ mǎ wéi rào yǐ lì shā 。

Đoạn, Ê-li-sê cầu nguyện mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi, xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được. Đức Giê-hô-va mở mắt người ra, thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở chung quanh Ê-li-sê.

:「使。」使

dí rén xià dào yǐ lì shā nà lǐ , yǐ lì shā dǎo gào yē hé huá shuō :「 qiú nǐ shǐ zhè xiē rén de yǎn mù hūn mí 。」 yē hé huá jiù zhào yǐ lì shā de huà , shǐ tā men de yǎn mù hūn mí 。

Quân Sy-ri kéo xuống nơi Ê-li-sê; người cầu nguyện Đức Giê-hô-va rằng: Xin Chúa khiến mắt quân ấy bị đui mù. Đức Chúa Trời bèn khiến chúng đui mù, theo như lời cầu nguyện của Ê-li-sê.

:「。」

yǐ lì shā duì tā men shuō :「 zhè bú shì nà dào , yě bú shì nà chéng ; nǐ men gēn wǒ qù , wǒ bì lǐng nǐ men dào suǒ xún zhǎo de rén nà lǐ 。」 yú shì lǐng tā men dào le sā mǎ lì yà 。

Đoạn, Ê-li-sê nói với chúng nó rằng; Đây không phải là đường, đây chẳng phải là thành. Hãy theo ta, ta sẽ dẫn các ngươi đến người mà các ngươi tìm kiếm. Rồi người dẫn chúng nó đến Sa-ma-ri.

:「使。」

tā men jìn le sā mǎ lì yà , yǐ lì shā dǎo gào shuō :「 yē hé huá a , qiú nǐ kāi zhè xiē rén de yǎn mù , shǐ tā men néng kàn jiàn 。」 yē hé huá kāi tā men de yǎn mù , tā men jiù kàn jiàn le , bú liào , shì zài sā mǎ lì yà de chéng zhōng 。

Khi chúng nó đã vào trong Sa-ma-ri rồi, Ê-li-sê cầu rằng: Lạy Đức Giê-hô-va, xin mở mắt cho chúng nó thấy. Đức Giê-hô-va bèn mở mắt họ, họ thấy mình ở giữa Sa-ma-ri.

:「?」

yǐ sè liè wáng jiàn le tā men , jiù wèn yǐ lì shā shuō :「 wǒ fù a , wǒ kě yǐ jī shā tā men ma ?」

Vua Y-sơ-ra-ên thấy chúng nó, thì nói với Ê-li-sê rằng: Hỡi cha! phải đánh chúng nó chăng? phải đánh chúng nó chăng.

:「使。」

huí dá shuō :「 bù kě jī shā tā men ! jiù shì nǐ yòng dāo yòng gōng lǔ lái de , qǐ kě jī shā tā men ma ? dāng zài tā men miàn qián shè bǎi yǐn shí , shǐ tā men chī hē huí dào tā men de zhǔ rén nà lǐ 。」

Ê-li-sê đáp rằng: Chớ đánh. Những người vua dùng gươm và cung mà bắt làm phu tù, vua há đánh sao? Hãy dọn trước mặt chúng bánh và rượu, để cho chúng ăn và uống, rồi trở về cùng chủ mình.

wáng jiù wèi tā men yù bèi le xǔ duō shí wù ; tā men chī hē wán le , dǎ fā tā men huí dào tā men zhǔ rén nà lǐ 。 cóng cǐ , yà lán jūn bú zài fàn yǐ sè liè jìng le 。

Người bèn bày tiệc lớn cho chúng nó; khi chúng nó đã ăn uống rồi, người tha cho chúng nó đi; chúng nó bèn trở về cùng chủ mình. Từ đó về sau, những toán quân Sy-ri không còn loán đến địa phận Y-sơ-ra-ên nữa.

便·

cǐ hòu , yà lán wáng biàn · hǎ dá jù jí tā de quán jūn , shàng lái wéi kùn sā mǎ lì yà 。

Sau các điều đó, Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, nhóm cả đạo binh mình, đi lên vây thành Sa-ma-ri.

yú shì sā mǎ lì yà bèi wéi kùn , yǒu jī huāng , shèn zhì yí gè lǘ tóu zhí yín bā shí shè kè lè , èr shēng gē zi fèn zhí yín wǔ shè kè lè 。

Trong Sa-ma-ri đang có sự đói kém lớn lắm, thành bị vây hãm lâu ngày, đến đỗi một cái đầu lừa bán tám mươi siếc lơ bạc, và một góc tư ô phân bò câu bán năm siếc lơ bạc.

:「。」

yí rì , yǐ sè liè wáng zài chéng shàng jīng guò , yǒu yí gè fù rén xiàng tā hū jiào shuō :「 wǒ zhǔ , wǒ wáng a ! qiú nǐ bāng zhù 。」

Khi vua Y-sơ-ra-ên đi ngang qua trên tường thành, có một người đàn bà kêu người rằng: Oâi vua chúa tôi, xin cứu tôi!

:「?」

wáng shuō :「 yē hé huá bù bāng zhù nǐ , wǒ cóng hé chù bāng zhù nǐ ? shì cóng hé chǎng , shì cóng jiǔ zhà ne ?」

Vua nói: Nếu Đức Giê-hô-va không cứu ngươi, thì ta lấy đâu đặng cứu ngươi? Bởi sân đạp lúa hay là bởi nơi ép rượu sao?

:「?」:「:『。』

wáng wèn fù rén shuō :「 nǐ yǒu shén me kǔ chù ?」 tā huí dá shuō :「 zhè fù rén duì wǒ shuō :『 jiāng nǐ de ér zi qǔ lái , wǒ men jīn rì kě yǐ chī , míng rì kě yǐ chī wǒ de ér zi 。』

Vua lại rằng: Ngươi có chi? Nàng thưa rằng: Đàn bà này nói với tôi rằng: Hãy cho con trai chị, hầu ngày nay chúng ta ăn thịt nó; ngày mai chúng ta sẽ ăn thịt con trai ta.

:『。』。」

wǒ men jiù zhǔ le wǒ de ér zi chī le 。 cì rì wǒ duì tā shuō :『 yào jiāng nǐ de ér zi qǔ lái , wǒ men kě yǐ chī 。』 tā què jiāng tā de ér zi cáng qǐ lái le 。」

Vậy, chúng tôi có nấu thịt con trai tôi và ăn. Ngày mai tôi có nói với người rằng: Hãy cho con trai chị, hầu chúng ta ăn nó. Nhưng người có giấu con trai mình.

;(穿

wáng tīng jiàn fù rén de huà , jiù sī liè yī fu ;( wáng zài chéng shàng jīng guò ) bǎi xìng kàn jiàn wáng tiē shēn chuān zhe má yī 。

Khi vua nghe lời của người đàn bà này, thì xé quần áo mình. Bấy giờ, người đang đi ngang qua trên tường thành, dân sự xem thấy người phía trong mặc cái bao sát vào thịt mình.

:「 !」

wáng shuō :「 wǒ jīn rì ruò róng shā fǎ de ér zi yǐ lì shā de tóu réng zài tā xiàng shàng , yuàn shén chóng chóng dì jiàng fá yǔ wǒ !」

Vua la lên rằng: Nếu ngày nay đầu của Ê-li-sê, con trai của Sa-phát, hãy còn ở trên vai nó, nguyện Đức Chúa Trời xử ta cách nặng nề!

:「使?」

nà shí , yǐ lì shā zhèng zuò zài jiā zhōng , zhǎng lǎo yě yǔ tā tóng zuò 。 wáng dǎ fā yí gè cì hou tā de rén qù ; tā hái méi yǒu dào , yǐ lì shā duì zhǎng lǎo shuō :「 nǐ men kàn zhè xiōng shǒu zhī zǐ , dǎ fā rén lái zhǎn wǒ de tóu ; nǐ men kàn zhe shǐ zhě lái dào , jiù guān shàng mén , yòng mén jiàng tā tuī chū qù 。 zài tā hòu tou bú shì yǒu tā zhǔ rén jiǎo bù de xiǎng shēng ma ?」

Ê-li-sê đang ngồi trong nhà mình, và các trưởng lão ngồi chung quanh người, thì vua sai một sứ giả đi trước mình đến cùng tiên tri. Nhưng khi sứ giả chưa đến, Ê-li-sê nói với các trưởng lão rằng: Kìa, hãy xem, con kẻ sát nhân kia sai người đến đặng cắt đầu ta. Khá coi chừng: vừa khi sứ giả đến, hãy đóng cửa lại, dùng cửa xô đuổi nó đi. Các ngươi há chẳng nghe tiếng bước của chủ nó sau lưng nó sao?

使:「?」

zhèng shuō huà de shí hòu , shǐ zhě lái dào , wáng yě dào le , shuō :「 zhè zāi huò shì cóng yē hé huá nà lǐ lái de , wǒ hé bì zài yǎng wàng yē hé huá ne ?」

Người còn đang nói, chúng thấy sứ giả đến. Vua cũng đến, nói với Ê-li-sê rằng: Tai nạn này đến bởi Đức Giê-hô-va. Vậy, ta còn trông cậy nơi Đức Giê-hô-va làm chi?

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.