中文圣经

II SA-MU-ÊN 19

đã biết 0/397

:「。」

yǒu rén gào sù yuē yā shuō :「 wáng wèi yā shā lóng kū qì bēi āi 。」

Người ta đến nói cùng Giô-áp rằng: Kìa, vua khóc và than tiếc Aùp-sa-lôm.

zhòng mín tīng shuō wáng wèi tā ér zi yōu chóu , tā men dé shèng de huān lè què biàn chéng bēi āi 。

Aáy vậy, chính trong ngày đó sự thắng trận bèn đổi ra sự thảm sầu cho cả dân sự; vì dân sự đã nghe nói rằng vua rất buồn bực về sự chết của con vua.

nà rì zhòng mín àn àn dì jìn chéng , jiù rú bài zhèn táo pǎo 、 cán kuì de mín yì bān 。

Nên nỗi, trong ngày đó, dân sự lén trở vào thành dường như một đạo binh mắc cỡ vì đã trốn khỏi chiến trận.

:「!」

wáng méng zhe liǎn , dà shēng kū hào shuō :「 wǒ ér yā shā lóng a ! yā shā lóng , wǒ ér , wǒ ér a !」

Vua trùm mặt, la lớn tiếng lên rằng: Oâi, Aùp-sa-lôm, con trai ta! Oâi, Aùp-sa-lôm, con trai ta! con trai ta!

:「使

yuē yā jìn qù jiàn wáng , shuō :「 nǐ jīn rì shǐ nǐ yí qiè pú rén liǎn miàn cán kuì le ! tā men jīn rì jiù le nǐ de xìng mìng hé nǐ ér nǚ qī qiè de xìng mìng ,

Giô-áp bèn vào nhà vua, và nói rằng: Ngày nay vua làm hổ mặt các kẻ tôi tớ vua, là những người chính ngày nay đã cứu mạng sống của vua, của các con trai và các con gái vua, luôn đến cứu mạng sống của các vợ và hầu vua nữa.

nǐ què ài nà hèn nǐ de rén , hèn nà ài nǐ de rén 。 nǐ jīn rì míng míng dì bù yǐ jiàng shuài 、 pú rén wéi niàn 。 wǒ jīn rì kàn míng , ruò yā shā lóng huó zhe , wǒ men dōu sǐ wáng , nǐ jiù xǐ yuè le 。

Vậy, vua thương những người ghét vua, và ghét những người thương vua; vì vua mới tỏ ra rằng những quan trưởng và các tôi tớ của vua chẳng ra chi với vua. Rày tôi biết rõ ràng nếu Aùp-sa-lôm còn sống, và chúng tôi ngày nay đều chết hết thảy, thì vừa ý vua.

!」

xiàn zài nǐ dāng chū qù , ān wèi nǐ pú rén de xīn 。 wǒ zhǐ zhe yē hé huá qǐ shì : nǐ ruò bù chū qù , jīn yè bì wú yì rén yǔ nǐ tóng zài yí chù ; zhè huò huàn jiù bǐ nǐ cóng yòu nián dào rú jīn suǒ zāo de gèng shèn !」

Thà vua chổi dậy, đi ra nói những lời giục lòng các tôi tớ vua; vì tôi chỉ Đức Giê-hô-va mà thề rằng, nếu vua không chường ra, thì đêm nay sẽ không còn một người nào ở bên vua; và tai nạn ấy sẽ còn trọng hơn các tai nạn khác đã xảy đến cho vua từ khi thơ ấu tới ngày nay.

yú shì wáng qǐ lái , zuò zài chéng mén kǒu 。 zhòng mín tīng shuō wáng zuò zài chéng mén kǒu , jiù dōu dào wáng miàn qián 。 dà wèi huí yē lù sā lěng yǐ sè liè rén yǐ jīng táo pǎo , gè huí gè jiā qù le 。

Bấy giờ, vua chổi dậy, ngồi tại cửa thành. Người ta cho cả dân sự biết rằng vua đã ngồi tại cửa thành. Cả dân sự bèn kéo đến trước mặt vua. Vả, Y-sơ-ra-ên ai nấy đều đã chạy trốn nơi trại mình.

:「

yǐ sè liè zhòng zhī pài de rén fēn fēn yì lùn shuō :「 wáng céng jiù wǒ men tuō lí chóu dí de shǒu , yòu jiù wǒ men tuō lí fēi lì shì rén de shǒu , xiàn zài tā duǒ bì yā shā lóng táo zǒu le 。

Trong các chi phái Y-sơ-ra-ên người ta trách nhau rằng: Vua đã giải chúng ta khỏi tay kẻ thù nghịch chúng ta, và người đã cứu chúng ta khỏi tay dân Phi-li-tin. Song bây giờ, người phải trốn khỏi xứ vì cớ Aùp-sa-lôm.

?」

wǒ men gāo yā shā lóng zhì lǐ wǒ men , tā yǐ jīng zhèn wáng 。 xiàn zài wèi shén me bù chū yì yán qǐng wáng huí lái ne ?」

Vả, Aùp-sa-lôm mà chúng ta đã xức dầu cho làm vua chúng ta đã chết trong chiến trận. Vậy bây giờ, nhân sao các ngươi không nói đem vua trở về?

:「:『

dà wèi wáng chà rén qù jiàn jì sī sā dū hé yà bǐ yà tā , shuō :「 nǐ men dāng xiàng yóu dà zhǎng lǎo shuō :『 yǐ sè liè zhòng rén yǐ jīng yǒu huà qǐng wáng huí gōng , nǐ men wèi shén me luò zài tā men hòu tou ne ?

Vua Đa-vít sai nói cùng hai thầy tế lễ Xa-đốc và A-bia-tha rằng: Hãy nói cùng các trưởng lão Giu-đa mà rằng: Lời cả Y-sơ-ra-ên nói về việc rước vua về, đã thấu đến nơi vua rồi; vậy, cớ sao các ngươi là kẻ sau chót đem vua về cung người?

?』

nǐ men shì wǒ de dì xiong , shì wǒ de gǔ ròu , wèi shén me zài rén hòu tou qǐng wáng huí lái ne ?』

Các ngươi là anh em ta, là cốt nhục ta. Nhân sao các ngươi là kẻ sau chót đem vua về?

:『 !』」

yě yào duì yà mǎ sā shuō :『 nǐ bú shì wǒ de gǔ ròu ma ? wǒ ruò bú lì nǐ tì yuē yā cháng zuò yuán shuài , yuàn shén chóng chóng dì jiàng fá yǔ wǒ !』」

Cũng hãy nói cùng A-ma-sa rằng: Ngươi há chẳng phải là cốt nhục ta sao? Nếu ngươi không làm tổng binh thế cho Giô-áp hằng ở trước mặt ta, thì nguyện Đức Chúa Trời phạt ta cách nặng nề.

便:「。」

rú cǐ jiù wǎn huí yóu dà zhòng rén de xīn , rú tóng yì rén de xīn 。 tā men biàn dǎ fā rén qù jiàn wáng , shuō :「 qǐng wáng hé wáng de yí qiè chén pú huí lái 。」

Như vậy, Đa-vít được lòng hết thảy người Giu-đa, dường như họ chỉ một người mà thôi; họ bèn sai nói với vua rằng: Xin vua hãy trở về với hết thảy tôi tớ vua.

wáng jiù huí lái , dào le yuē dàn hé 。 yóu dà rén lái dào jí jiǎ , yào qù yíng jiē wáng , qǐng tā guò yuē dàn hé 。

Vậy, vua trở về, đến tại bờ sông Giô-đanh. Các người Giu-đa đi đến đón vua tại Ghinh-ganh đặng đưa vua qua sông Giô-đanh.

便

bā hù lín de biàn yǎ mǐn rén 、 jī lā de ér zi shì měi jí máng yǔ yóu dà rén yì tóng xià qù yíng jiē dà wèi wáng 。

Si-mê-i, con trai Ghê-ra, người Bên-gia-min ở Ba-hu-rim, lật đật đi xuống với các người Giu-đa, đón vua Đa-vít.

便

gēn cóng shì měi de yǒu yì qiān biàn yǎ mǐn rén , hái yǒu sǎo luó jiā de pú rén xǐ bā hé tā shí wǔ gè ér zi , èr shí gè pú rén ; tā men dōu tàng guò yuē dàn hé yíng jiē wáng 。

Một ngàn người Bên-gia-min đều theo người, với Xíp-ba, tôi tớ của nhà Sau-lơ, cùng mười lăm con trai người và hai mươi đầy tớ; chúng qua sông Giô-đanh tại trước mặt vua.

使

yǒu bǎi dù chuán guò qù , dù wáng de jiā juàn , rèn wáng shǐ yòng 。 dà wèi kuān shù shì měi wáng yào guò yuē dàn hé de shí hòu , jī lā de ér zi shì měi jiù fǔ fú zài wáng miàn qián ,

Chiếc đò để sẵn cho gia quyến vua cũng qua một lượt. Si-mê-i, con trai của Ghê-ra, phục dưới chân vua Đa-vít, trong khi vua hầu qua sông Giô-đanh.

:「

duì wáng shuō :「 wǒ zhǔ wǒ wáng chū yē lù sā lěng de shí hòu , pú rén xíng bèi nì de shì , xiàn zài qiú wǒ zhǔ bú yào yīn cǐ jiā zuì yǔ pú rén , bú yào jì niàn , yě bú yào fàng zài xīn shàng 。

Người nói cùng vua rằng: Cầu xin chúa tôi chớ kể tội ác cho tôi, và đừng nhớ đến sự gian tà mà kẻ tôi tớ vua đã phạm trong ngày vua chúa tôi đi ra khỏi Giê-ru-sa-lem. Xin vua chớ để điều đó vào lòng.

。」

pú rén míng zhī zì jǐ yǒu zuì , suǒ yǐ yuē sè quán jiā zhī zhōng , jīn rì wǒ shǒu xiān xià lái yíng jiē wǒ zhǔ wǒ wáng 。」

Kẻ tôi tớ vua nhìn biết mình đã phạm tội. Vì vậy, ngày nay trong cả nhà Giô-sép, tôi đã đến trước hết đặng xuống đón vua chúa tôi.

:「?」

xǐ lǔ yǎ de ér zi yà bǐ shāi shuō :「 shì měi jì zhòu mà yē hé huá de shòu gāo zhě , bú yīng dāng zhì sǐ tā ma ?」

Nhưng A-bi-sai, con trai Xê-ru-gia, đáp rằng: Vậy, người ta há không xử tử Si-mê-i vì cớ đó sao, là kẻ đã rủa sả đấng chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va?

:「使?」

dà wèi shuō :「 xǐ lǔ yǎ de ér zi , wǒ yǔ nǐ men yǒu hé guān shè , shǐ nǐ men jīn rì yǔ wǒ fǎn duì ne ? jīn rì zài yǐ sè liè zhōng qǐ kě zhì sǐ rén ne ? wǒ qǐ bù zhī jīn rì wǒ zuò yǐ sè liè de wáng ma ?」

Nhưng Đa-vít đáp cùng người rằng: Hỡi các con trai Xê-ru-gia, ta có can hệ chi với các ngươi chăng, mà ngày nay các ngươi ở với ta khác nào kẻ cừu địch? Trong một ngày như vậy, người ta há có thể sai giết một người trong Y-sơ-ra-ên ư? Ngày nay có lẽ nào ta không hiểu rằng ta là vua của Y-sơ-ra-ên sao?

:「。」

yú shì wáng duì shì měi shuō :「 nǐ bì bù sǐ 。」 wáng jiù xiàng tā qǐ shì 。

Đoạn, vua nói cùng Si-mê-i rằng: Ngươi chẳng chết đâu. Rồi vua lập lời thề với người.

sǎo luó de sūn zǐ mǐ fēi bō shè yě xià qù yíng jiē wáng 。 tā zì cóng wáng qù de rì zi , zhí dào wáng píng píng ān ān dì huí lái , méi yǒu xiū jiǎo , méi yǒu tì hú xū , yě méi yǒu xǐ yī fu 。

Mê-phi-bô-sết, con trai của Sau-lơ, cũng đi xuống đón vua. Người không có rửa chân, chải râu hay là giặt áo mình từ lúc vua ra đi, cho đến ngày vua trở về bình an vô sự.

:「?」

tā lái dào yē lù sā lěng yíng jiē wáng de shí hòu , wáng wèn tā shuō :「 mǐ fēi bō shè , nǐ wèi shén me méi yǒu yǔ wǒ tóng qù ne ?」

Khi người ở Giê-ru-sa-lem đến đón vua, thì Đa-vít hỏi người rằng: Hỡi Mê-phi-bô-sết, sao ngươi không đến cùng ta?

:「

tā huí dá shuō :「 wǒ zhǔ wǒ wáng , pú rén shì qué tuǐ de 。 nà rì wǒ xiǎng yào bèi lǘ qí shàng , yǔ wáng tóng qù , wú nài wǒ de pú rén qī hǒng le wǒ ,

Người thưa rằng: Oâi vua chúa tôi, thằng tôi tớ tôi có đánh lừa tôi. Thật tôi nghĩ rằng: Tôi sẽ thắng lừa, rồi cỡi nó đặng đi theo vua; vì tôi tớ của vua là què.

使

yòu zài wǒ zhǔ wǒ wáng miàn qián chán huǐ wǒ 。 rán ér wǒ zhǔ wǒ wáng rú tóng shén de shǐ zhě yì bān , nǐ kàn zěn yàng hǎo , jiù zěn yàng xíng ba !

Người ta có cáo gian tôi ở nơi vua chúa tôi; nhưng vua chúa tôi khác nào một thiên sứ của Đức Chúa Trời. Xin hãy đãi tôi theo ý vua lấy làm tốt.

使?」

yīn wèi wǒ zǔ quán jiā de rén , zài wǒ zhǔ wǒ wáng miàn qián dōu suàn wèi sǐ rén , wáng què shǐ pú rén zài wáng de xí shàng tóng rén chī fàn , wǒ xiàn zài xiàng wáng hái néng biàn lǐ sù yuān ma ?」

Vì các người của nhà cha tôi trước mặt vua chúa tôi chỉ đáng chết mà thôi. Dầu vậy, vua đã để tôi vào số người ăn nơi bàn vua. Thế thì, tôi nào còn có lẽ gì mà phàn nàn cùng vua?

:「。」

wáng duì tā shuō :「 nǐ hé bì zài tí nǐ de shì ne ? wǒ shuō , nǐ yǔ xǐ bā jūn fēn dì tǔ 。」

Vua nói cùng người rằng: Sao còn nói về việc mình làm chi? Ta đã nói rằng: Ngươi và Xíp-ba hãy chia lấy đất.

:「。」

mǐ fēi bō shè duì wáng shuō :「 wǒ zhǔ wǒ wáng jì píng píng ān ān dì huí gōng , jiù rèn píng xǐ bā dōu qǔ le yě kě yǐ 。」

Mê-phi-bô-sết thưa lại rằng: Xíp-ba lấy hết cũng được, bởi vua chúa tôi đã trở về nhà mình bình an vô sự.

西

jī liè rén bā xī lái cóng luó jī lín xià lái , yào sòng wáng guò yuē dàn hé , jiù yǔ wáng yì tóng guò le yuē dàn hé 。

Bát-xi-lai ở Ga-la-át cũng từ Rô-ghê-lim xuống, và qua sông Giô-đanh với vua đặng đưa vua đến bên kia sông.

西

bā xī lái nián jì lǎo mài , yǐ jīng bā shí suì le 。 wáng zhù zài mǎ hā niàn de shí hòu , tā jiù ná shí wù lái gōng jǐ wáng ; tā yuán shì dà fù hù 。

Người đã già quá, được tám mươi tuổi, có cung cấp lương thực cho vua trọn lúc vua ở tại Ma-ha-na-im; vì người có nhiều của cải lắm.

西:「。」

wáng duì bā xī lái shuō :「 nǐ yǔ wǒ tóng qù , wǒ yào zài yē lù sā lěng nà lǐ yǎng nǐ de lǎo 。」

Vua nói với Bát-xi-tai rằng: Hãy qua sông Giô-đanh với ta, ta sẽ bao bọc cho ngươi ở nhà ta tại Giê-ru-sa-lem.

西:「使

bā xī lái duì wáng shuō :「 wǒ zài shì de nián rì hái néng yǒu duō shǎo , shǐ wǒ yǔ wáng tóng shàng yē lù sā lěng ne ?

Nhưng Bát-xi-lai thưa cùng vua rằng: Bây giờ tôi còn bao lâu ngày nữa, mà lại cùng vua đi lên Giê-ru-sa-lem?

pú rén xiàn zài bā shí suì le , hái néng cháng chū yǐn shí de zī wèi 、 biàn bié měi è ma ? hái néng tīng nán nǚ gē chàng de shēng yīn ma ? pú rén hé bì léi zhui wǒ zhǔ wǒ wáng ne ?

Ngày nay tôi được tám mươi tuổi, há còn có thế phân biệt điều tốt và điều xấu ư? Kẻ tôi tớ vua cũng chẳng nếm được mùi của vật mình ăn và uống. Há lại có thể vui nghe người nam nữ ca xướng sao? Kẻ tôi tớ vua sẽ làm bận vua chúa tôi mà làm chi?

pú rén zhǐ yào sòng wáng guò yuē dàn hé , wáng hé bì cì wǒ zhè yàng de ēn diǎn ne ?

Kẻ tôi tớ vua sẽ cùng vua đi tới một chút ở bên kia sông Giô-đanh. Cớ sao vua muốn thưởng cho tôi cách dường ấy?

。」

qiú nǐ zhǔn wǒ huí qù , hǎo sǐ zài wǒ běn chéng , zàng zài wǒ fù mǔ de mù páng 。 zhè lǐ yǒu wáng de pú rén jīn hǎn , ràng tā tóng wǒ zhǔ wǒ wáng guò qù , kě yǐ suí yì dài tā 。」

Xin cho phép tôi trở về, hầu cho tôi chết trong thành tôi, gần bên mộ của cha mẹ tôi. Nhưng nầy là Kim-ham, kẻ tôi tớ vua; nó sẽ đi qua sông Giô-đanh với vua chúa tôi, rồi vua phải đãi nó tùy ý vua lấy làm tốt.

:「。」

wáng shuō :「 jīn hǎn kě yǐ yǔ wǒ tóng qù , wǒ bì zhào nǐ de xīn yuàn dài tā 。 nǐ xiàng wǒ qiú shén me , wǒ dōu bì wèi nǐ chéng jiù 。」

Vua tiếp rằng: Kim-ham sẽ theo ta, ta sẽ làm cho nó mọi điều ngươi muốn; hễ ngươi xin ta điều gì, thì ta sẽ nhậm cho.

西西

yú shì zhòng mín guò yuē dàn hé , wáng yě guò qù 。 wáng yǔ bā xī lái qīn zuǐ , wèi tā zhù fú , bā xī lái jiù huí běn dì qù le 。

Vậy, cả dân sự đều qua sông Giô-đanh, chính mình vua cũng đi nữa. Đoạn vua hôn và chúc phước cho Bát-xi-lai; rồi Bát-xi-lai trở về xứ sở mình.

wáng guò qù , dào le jí jiǎ , jīn hǎn yě gēn tā guò qù 。 yóu dà zhòng mín hé yǐ sè liè mín de yí bàn yě dōu sòng wáng guò qù 。

Từ đó, vua đi qua Ghinh-ganh, có Kim-ham, cả dân Giu-đa, và hơn phân nửa dân Y-sơ-ra-ên đều theo.

:「?」

yǐ sè liè zhòng rén lái jiàn wáng , duì tā shuō :「 wǒ men dì xiong yóu dà rén wèi shén me àn àn sòng wáng hé wáng de jiā juàn , bìng gēn suí wáng de rén guò yuē dàn hé ?」

Bấy giờ, hết thảy người Y-sơ-ra-ên đến cùng vua, mà hỏi rằng: Cớ sao anh em chúng tôi là người Giu-đa, có lén đem vua, đi đưa sang sông Giô-đanh luôn với người nhà và hết thảy kẻ theo vua?

:「?」

yóu dà zhòng rén huí dá yǐ sè liè rén shuō :「 yīn wèi wáng yǔ wǒ men shì qīn shǔ , nǐ men wèi hé yīn zhè shì fā nù ne ? wǒ men chī le wáng de shén me ne ? wáng shǎng cì le wǒ men shén me ne ?」

Người Giu-đa đáp lại cùng người Y-sơ-ra-ên rằng: Aáy vì vua là đồng tộc cùng chúng ta. Vả lại, cớ sao anh em giận? Chúng ta có ăn nhờ gì của vua chăng? Chúng ta há có lãnh một của gì nơi vua sao?

:「?」

yǐ sè liè rén huí dá yóu dà rén shuō :「 àn zhī pài , wǒ men yǔ wáng yǒu shí fēn de qíng fēn ; zài dà wèi shēn shàng , wǒ men yě bǐ nǐ men gèng yǒu qíng fēn 。 nǐ men wèi hé miǎo shì wǒ men , qǐng wáng huí lái bù xiān yǔ wǒ men shāng liáng ne ?」 dàn yóu dà rén de huà bǐ yǐ sè liè rén de huà gèng yìng 。

Nhưng người Y-sơ-ra-ên đáp cùng người Giu-đa rằng: Chúng ta có mười phần nơi vua, lại Đa-vít thuộc về chúng ta hơn là các ngươi; vậy, cớ sao các ngươi không đếm xỉa đến chúng ta? Há chẳng phải chúng ta nói trước đem vua về sao? Những lời nói của người Giu-đa lại còn nặng hơn lời nói của người Y-sơ-ra-ên.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.