中文圣经

Ê-SAI 63

đã biết 0/231

穿广

zhè cóng yǐ dōng de bō sī lā lái , chuān hóng yī fu , zhuāng bàn huá měi , néng lì guǎng dà , dà bù xíng zǒu de shì shuí ne ? jiù shì wǒ , shì píng gōng yì shuō huà , yǐ dà néng shī xíng zhěng jiù 。

Đấng từ Ê-đôm đến, từ Bốt-ra tới, mặc áo nhuộm, bận đồ hoa mĩ, cậy sức mạnh cả thể, kéo bộ cách oai nghiêm, là ai? Aáy, chính ta, là Đấng dùng sự công bình mà nói, và có quyền lớn để cứu rỗi!

nǐ de zhuāng bàn wèi hé yǒu hóng sè ? nǐ de yī fu wèi hé xiàng chuài jiǔ zhà de ne ?

Aùo ngươi có màu đỏ, áo xống của ngươi như của người đạp bàn ép rượu là vì sao?

wǒ dú zì chuài jiǔ zhà ; zhòng mín zhōng wú yì rén yǔ wǒ tóng zài 。 wǒ fā nù jiāng tā men chuài xià , fā liè nù jiāng tā men jiàn tà 。 tā men de xuè jiàn zài wǒ yī fu shàng , bìng qiě wū rǎn le wǒ yí qiè de yī shang 。

Chỉ một mình ta đạp bàn ép rượu, trong vòng các dân chẳng từng có ai với ta. Trong cơn giận ta đã đạp lên; đang khi thạnh nộ ta đã nghiền nát ra: máu tươi họ đã vảy ra trên áo ta, áo xống ta đã vấy hết.

yīn wèi , bào chóu zhī rì zài wǒ xīn zhōng ; jiù shú wǒ mín zhī nián yǐ jīng lái dào 。

Vì ta đã định ngày báo thù trong lòng ta, và năm cứu chuộc của ta đã đến.

wǒ yǎng wàng , jiàn wú rén bāng zhù ; wǒ chà yì , méi yǒu rén fú chí 。 suǒ yǐ , wǒ zì jǐ de bǎng bì wèi wǒ shī xíng zhěng jiù ; wǒ de liè nù jiāng wǒ fú chí 。

Ta đã xem, chẳng có ai đến giúp ta; ta lấy làm lạ vì chẳng có ai nâng đỡ ta! Cánh tay ta bèn cứu ta, sự thạnh nộ ta bèn nâng đỡ ta.

使

wǒ fā nù , chuài xià zhòng mín ; fā liè nù , shǐ tā men chén zuì , yòu jiāng tā men de xuè dǎo zài dì shàng 。

Ta đã giày đạp các dân trong cơn giận; đã khiến chúng nó say vì sự thạnh nộ ta, và đã đổ máu tươi chúng nó ra trên đất.

wǒ yào zhào yē hé huá yí qiè suǒ cì gěi wǒ men de , tí qǐ tā de cí ài hé měi dé , bìng tā xiàng yǐ sè liè jiā suǒ shī de dà ēn ; zhè ēn shì zhào tā de lián xù hé fēng shèng de cí ài cì gěi tā men de 。

Ta sẽ nói đến những sự nhân từ của Đức Giê-hô-va, và sự ngợi khen Đức Giê-hô-va, y theo mọi sự Đức Giê-hô-va đã ban cho chúng ta, và thuật lại phước lớn Ngài đã ban cho nhà Y-sơ-ra-ên, y theo những sự thương xót và sự nhân từ vô số của Ngài.

tā shuō : tā men chéng rán shì wǒ de bǎi xìng , bù xíng xū jiǎ de zǐ mín ; zhè yàng , tā jiù zuò le tā men de jiù zhǔ 。

Vì Ngài có phán: Thật, chúng nó là dân ta, tức con cái sẽ chẳng làm dối; vậy Ngài đã làm Đấng Cứu họ.

使怀

tā men zài yí qiè kǔ nàn zhōng , tā yě tóng shòu kǔ nàn ; bìng qiě tā miàn qián de shǐ zhě zhěng jiù tā men ; tā yǐ cí ài hé lián mǐn jiù shú tā men ; zài gǔ shí de rì zi cháng bǎo bào tā men , huái chuāi tā men 。

Hễ khi dân Ngài bị khốn khổ, chính Ngài cũng khốn khổ, và thiên sứ trước mặt Ngài đã cứu họ rồi. Chính Ngài đã lấy lòng yêu đang thương xót mà chuộc họ. Ngài đã ẵm bồng, và mang họ trong các ngày thuở xưa.

使

tā men jìng bèi nì , shǐ zhǔ de shèng líng dān yōu 。 tā jiù zhuǎn zuò tā men de chóu dí , qīn zì gōng jī tā men 。

Song họ đã bội nghịch, đã làm cho Thần thánh Ngài buồn rầu, Ngài bèn trở làm cừu thù với họ, và chính mình Ngài chinh chiến cùng họ.

西

nà shí , tā men xiǎng qǐ gǔ shí de rì zi — mó xī hé tā bǎi xìng , shuō : jiāng bǎi xìng hé mù yǎng tā quán qún de rén cóng hǎi lǐ lǐng shàng lái de zài nǎ lǐ ne ? jiāng tā de shèng líng jiàng zài tā men zhōng jiān de zài nǎ lǐ ne ?

Bấy giờ dân nhớ lại ngày xưa, về Môi-se và dân sự người, mà nói rằng: Nào Đấng đã làm cho dân và người chăn bầy vật mình ra khỏi biển ở đâu? Nào Đấng đã đặt Thần thánh mình giữa dân sự ở đâu?

使耀西

shǐ tā róng yào de bǎng bì zài mó xī de yòu shǒu biān xíng dòng , zài tā men qián miàn jiāng shuǐ fèn kāi , yào jiàn lì zì jǐ yǒng yuǎn de míng ,

là Đấng lấy cánh tay vinh hiển đi bên tay hữu Môi-se; là Đấng đã rẽ nước ra trước mặt họ, đặng rạng danh vô cùng;

使

dài lǐng tā men jīng guò shēn chù , rú mǎ xíng zǒu kuàng yě , shǐ tā men bú zhì bàn diē de zài nǎ lǐ ne ?

là Đấng đã dắt dân qua trên sóng đào, như ngựa chạy đồng bằng, và không sẩy bước.

使仿耀

yē hé huá de líng shǐ tā men dé ān xī , fǎng fú shēng chù xià dào shān gǔ ; zhào yàng , nǐ yě yǐn dǎo nǐ de bǎi xìng , yào jiàn lì zì jǐ róng yào de míng 。

Thần của Đức Giê-hô-va đã khiến dân sự yên nghỉ, như bầy vật xuống nơi trũng. Cũng vậy, Ngài đã dắt dân mình đi đường, để cho rạng danh vinh hiển mình.

耀

qiú nǐ cóng tiān shàng chuí gù , cóng nǐ shèng jié róng yào de jū suǒ guān kàn 。 nǐ de rè xīn hé nǐ dà néng de zuò wéi zài nǎ lǐ ne ? nǐ ài mù de xīn cháng hé lián mǐn xiàng wǒ men zhǐ zhù le 。

Xin Chúa từ trên trời ngó xuống, từ chỗ ở thánh và vinh hiển của Ngài mà nhìn xem! Chớ nào lòng nóng nảy và công việc lớn Ngài ở đâu? Lòng ước ao sốt sắng và sự thương xót của Ngài bị ngăn trở đến cùng tôi.

」。

yà bó lā hǎn suī rán bú rèn shi wǒ men , yǐ sè liè yě bù chéng rèn wǒ men , nǐ què shì wǒ men de fù 。 yē hé huá a , nǐ shì wǒ men de fù ; cóng wàn gǔ yǐ lái , nǐ míng chēng wéi 「 wǒ men de jiù shú zhǔ 」。

Thật Ngài là Cha chúng tôi, dầu Aùp-ra-ham chẳng biết chúng tôi, Y-sơ-ra-ên cũng chẳng nhận chúng tôi; hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là Cha chúng tôi, danh Ngài là Đấng Cứu chuộc chúng tôi từ trước đời đời.

使使

yē hé huá a , nǐ wèi hé shǐ wǒ men zǒu chà lí kāi nǐ de dào , shǐ wǒ men xīn lǐ gāng yìng 、 bú jìng wèi nǐ ne ? qiú nǐ wèi nǐ pú rén , wèi nǐ chǎn yè zhī pài de yuán gù , zhuǎn huí lái 。

Hỡi Đức Giê-hô-va, sao để chúng tôi lầm lạc xa đường Ngài? sao để lòng chúng tôi cứng cỏi đến nỗi chẳng kính sợ Ngài? Xin hãy vì cớ các tôi tớ Ngài và các chi phái của cơ nghiệp Ngài mà trở lại!

nǐ de shèng mín bú guò zàn shí dé zhè chǎn yè ; wǒ men de dí rén yǐ jīng jiàn tà nǐ de shèng suǒ 。

Dân thánh của Ngài được xứ nầy làm kỷ vật chưa bao lâu; mà kẻ thù chúng tôi đã giày đạp nơi thánh của Ngài.

wǒ men hǎo xiàng nǐ wèi céng zhì lǐ de rén , yòu xiàng wèi céng dé chēng nǐ míng xià de rén 。

Từ lâu nay chúng tôi đã như một dân không hề được Ngài cai trị, và không còn đội danh Ngài nữa.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.