中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 17

đã biết 0/301

yóu dà de zuì shì yòng tiě bǐ 、 yòng jīn gāng zuàn jì lù de , míng kè zài tā men de xīn bǎn shàng hé tán jiǎo shàng 。

Tội của Giu-đa đã chép bằng bút sắt, bằng dùi kim cương; đã chạm trên bảng trong lòng chúng nó, và trên sừng những bàn thờ các ngươi.

tā men de ér nǚ jì niàn tā men gāo gāng shàng 、 qīng cuì shù páng de tán hé mù ǒu 。

Con cái chúng nó nhớ lại bàn thờ và hình tượng chúng nó đã lập lên gần các cây xanh và trên gò cao.

wǒ tián yě de shān nǎ , wǒ bì yīn nǐ zài sì jìng zhī nèi suǒ fàn de zuì , bǎ nǐ de huò wù 、 cái bǎo , bìng qiū tán dāng lüè wù jiāo gěi chóu dí ;

Hỡi hòn núi ta trong đồng, ta sẽ phó của cải, châu báu và các nơi cao ngươi làm của cướp; vì cớ tội lỗi ngươi đã phạm trên khắp bờ cõi mình.

使使

bìng qiě nǐ yīn zì jǐ de zuì bì shī qù wǒ suǒ cì gěi nǐ de chǎn yè 。 wǒ yě bì shǐ nǐ zài nǐ suǒ bú rèn shi de dì shàng fú shì nǐ de chóu dí ; yīn wèi nǐ shǐ wǒ nù zhōng qǐ huǒ , zhí shāo dào yǒng yuǎn 。

Ngươi sẽ bỏ mất cơ nghiệp ta đã ban cho, ấy là tự ngươi làm lấy; ta sẽ bắt ngươi phục kẻ thù ngươi trong một xứ mà ngươi chưa từng biết; vì ngươi đã nhen lửa giận ta lên, thì nó cháy hoài hoài.

yē hé huá rú cǐ shuō : yǐ kào rén xuè ròu de bǎng bì , xīn zhōng lí qì yē hé huá de , nà rén yǒu huò le !

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giê-hô-va.

yīn tā bì xiàng shā mò de dù sōng , bú jiàn fú lè lái dào , què yào zhù kuàng yě gān hàn zhī chù , wú rén jū zhù de jiǎn dì 。

Nó sẽ như thạch thảo trong sa mạc, không thấy phước đến, nhưng ở trong nơi đồng vắng khô khan, trên đất mặn không dân ở.

yǐ kào yē hé huá 、 yǐ yē hé huá wèi kě kào de , nà rén yǒu fú le !

Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và lấy Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình.

tā bì xiàng shù zāi yú shuǐ páng , zài hé biān zhā gēn , yán rè lái dào , bìng bú jù pà , yè zǐ réng bì qīng cuì , zài gān hàn zhī nián háo wú guà lǜ , ér qiě jié guǒ bù zhǐ 。

Nó cũng như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng, chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt.

rén xīn bǐ wàn wù dōu guǐ zhà , huài dào jí chù , shuí néng shí tòu ne ?

Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được?

wǒ — yē hé huá shì jiàn chá rén xīn 、 shì yàn rén fèi fǔ de , yào zhào gè rén suǒ xíng de hé tā zuò shì de jié guǒ bào yìng tā 。

Ta, Đức Giê-hô-va, dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng, báo cho mỗi người tùy đường họ đi, tùy kết quả của việc họ làm.

nà bú àn zhèng dào dé cái de , hǎo xiàng zhè gū bào bú shì zì jǐ xià de dàn ; dào le zhōng nián , nà cái dōu bì lí kāi tā , tā zhōng jiǔ chéng wéi yú wán rén 。

Kẻ nào được giàu có chẳng theo sự công bình, cũng như chim đa đa ấp trứng mà mình chẳng đẻ ra; đến nửa đời người, nó phải mất hết, cuối cùng nó ra là ngu dại.

耀

wǒ men de shèng suǒ shì róng yào de bǎo zuò , cóng tài chū ān zhì zài gāo chù 。

Ngôi vinh hiển được lập lên từ ban đầu, ấy là nơi thánh của dân chúng ta!

yē hé huá — yǐ sè liè de pàn wàng a , fán lí qì nǐ de bì zhì méng xiū 。 yē hé huá shuō : lí kāi wǒ de , tā men de míng zì bì xiě zài tǔ lǐ , yīn wèi tā men lí qì wǒ zhè huó shuǐ de quán yuán 。

Hỡi Đức Giê-hô-va, là sự trông cậy của Y-sơ-ra-ên, những kẻ nào bỏ Ngài đều sẽ bị xấu hổ! Những kẻ lìa khỏi ta sẽ bị ghi trên đất, vì họ đã bỏ suối nước sống, tức là Đức Giê-hô-va.

便便

yē hé huá a , qiú nǐ yī zhì wǒ , wǒ biàn quán yù , zhěng jiù wǒ , wǒ biàn dé jiù ; yīn nǐ shì wǒ suǒ zàn měi de 。

Hỡi Đức Giê-hô-va! xin Ngài chữa tôi thì tôi sẽ được lành; xin Ngài cứu tôi thì tôi sẽ được rỗi: vì Ngài là Đấng mà tôi ngợi khen.

tā men duì wǒ shuō : yē hé huá de huà zài nǎ lǐ ne ? jiào zhè huà yìng yàn ba !

Nầy là lời người ta bảo tôi: Lời phán của Đức Giê-hô-va ở đâu? Rày hãy ứng nghiệm!

zhì yú wǒ , nà gēn cóng nǐ zuò mù rén de zhí fēn , wǒ bìng méi yǒu jí máng lí qì , yě méi yǒu xiǎng nà zāi yāng de rì zǐ ; zhè shì nǐ zhī dào de 。 wǒ kǒu zhōng suǒ chū de yán yǔ dōu zài nǐ miàn qián 。

Còn tôi, tôi chẳng vội vàng bỏ chức chăn dân mà không theo Ngài. Tôi cũng không tự ý muốn mình trông đến ngày khốn nạn, Ngài vẫn biết vậy. Lời miệng tôi nói ra điều ở trước mặt Ngài.

使

bú yào shǐ wǒ yīn nǐ jīng kǒng ; dāng zāi huò de rì zi , nǐ shì wǒ de bì nàn suǒ 。

Ngài là nơi ẩn náu của tôi trong ngày hoạn nạn, xin chớ làm cớ cho tôi kinh khiếp!

使使使使

yuàn nà xiē bī pò wǒ de méng xiū , què bú yào shǐ wǒ méng xiū ; shǐ tā men jīng huáng , què bú yào shǐ wǒ jīng huáng ; shǐ zāi huò de rì zi lín dào tā men , yǐ jiā bèi de huǐ huài huǐ huài tā men 。

Xin Ngài làm cho những kẻ bắt bớ tôi bị xấu hổ, mà chính tôi đừng bị xấu hổ; cho họ kinh hoàng, mà chính tôi đừng kinh hoàng! Xin cho ngày hoạn nạn lâm trên họ, và hủy hoại gấp hai!

:「

yē hé huá duì wǒ rú cǐ shuō :「 nǐ qù zhàn zài píng mín de mén kǒu , jiù shì yóu dà jūn wáng chū rù de mén , yòu zhàn zài yē lù sā lěng de gè mén kǒu ,

Đức Giê-hô-va phán cùng tôi rằng: Hãy đi, đứng tại cửa của con cái dân sự, tức là cửa các vua Giu-đa thường ra vào, và tại hết thảy các cửa thành Giê-ru-sa-lem.

:『

duì tā men shuō :『 nǐ men zhè yóu dà jūn wáng hé yóu dà zhòng rén , bìng yē lù sā lěng de yí qiè jū mín , fán cóng zhè xiē mén jìn rù de dōu dāng tīng yē hé huá de huà 。

Ngươi khá nói rằng: Hỡi các vua nước Giu-đa, cùng cả dân Giu-đa, và hết thảy dân cư Giê-ru-sa-lem, là kẻ do các cửa nầy qua lại, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va.

yē hé huá rú cǐ shuō : nǐ men yào jǐn shèn , bú yào zài ān xī rì dān shén me dàn zi jìn rù yē lù sā lěng de gè mén ;

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi hãy giữ, chớ khiêng gánh trong ngày sa-bát; chớ khiêng gánh vào cửa thành Giê-ru-sa-lem.

。』

yě bú yào zài ān xī rì cóng jiā zhōng dān chū dàn zi qù 。 wú lùn hé gōng dōu bù kě zuò , zhǐ yào yǐ ān xī rì wèi shèng rì , zhèng rú wǒ suǒ fēn fù nǐ men liè zǔ de 。』

Trong ngày sa-bát, đừng khiêng gánh ra khỏi nhà các ngươi, cũng đừng làm việc chi hết; nhưng hãy biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, như ta đã phán dặn tổ phụ các ngươi.

。」

tā men què bù tīng cóng , bú cè ěr ér tīng , jìng yìng zhe jǐng xiàng bù tīng , bú shòu jiào xùn 。」

Nhưng mà, họ chẳng nghe, chẳng lắng tai; cứng cổ để chẳng nghe ta và chẳng chịu dạy.

:「

yē hé huá shuō :「 nǐ men ruò liú yì tīng cóng wǒ , zài ān xī rì bù dān shén me dàn zi jìn rù zhè chéng de gè mén , zhī yǐ ān xī rì wèi shèng rì , zài nà rì wú lùn hé gōng dōu bú zuò ;

Đức Giê-hô-va phán: Nếu các ngươi chăm chỉ nghe ta, nếu các ngươi không khiêng gánh vào cửa thành ấy trong ngày sa-bát, nếu các ngươi biệt riêng ngày sa-bát ra thánh và không làm việc gì trong ngày đó,

nà shí jiù yǒu zuò dà wèi bǎo zuò de jūn wáng hé shǒu lǐng , tā men yǔ yóu dà rén , bìng yē lù sā lěng de jū mín , huò zuò chē , huò qí mǎ , jìn rù zhè chéng de gè mén , ér qiě zhè chéng bì cún dào yǒng yuǎn 。

thì các vua và các quan trưởng ngồi trên ngai Đa-vít sẽ cỡi xe cỡi ngựa, cùng với các quan trưởng người Giu-đa, và dân cư Giê-ru-sa-lem do cửa thành ấy mà vào; và thành ấy sẽ còn đời đời.

便殿

yě bì yǒu rén cóng yóu dài chéng yì hé yē lù sā lěng sì wéi de gè chù , cóng biàn yǎ mǐn dì 、 gāo yuán 、 shān dì , bìng nán dì ér lái , dōu dài fán jì 、 píng ān jì 、 sù jì , hé rǔ xiāng , bìng gǎn xiè jì , dào yē hé huá de diàn qù 。

Người ta sẽ đến từ các thành của Giu-đa và từ các nơi chung quanh Giê-ru-sa-lem, từ xứ Bên-gia-min, từ đất đồng bằng, đất núi, và phương Nam, đặng đem của lễ thiêu và các của lễ, của lễ chay cùng nhũ hương, và đem của lễ thù ân đến nhà Đức Giê-hô-va.

殿。」

nǐ men ruò bù tīng cóng wǒ , bù yǐ ān xī rì wèi shèng rì , réng zài ān xī rì dān dàn zi , jìn rù yē lù sā lěng de gè mén , wǒ bì zài gè mén zhōng diǎn huǒ ; zhè huǒ yě bì shāo huǐ yē lù sā lěng de gōng diàn , bù néng xī miè 。」

Nhưng nếu các ngươi không nghe ta để biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, mà trong ngày sa-bát khiêng gánh và vào cửa thành Giê-ru-sa-lem, thì ta sẽ đặt lửa nơi cửa thành, lửa ấy sẽ thiêu hủy cung điện của Giê-ru-sa-lem, không bao giờ tắt.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.