中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 23

đã biết 0/339

:「!」

yē hé huá shuō :「 nà xiē cán hài 、 gǎn sàn wǒ cǎo chǎng zhī yáng de mù rén yǒu huò le !」

Đức Giê-hô-va phán: Khốn thay cho những kẻ chăn hủy diệt và làm tan lạc bầy chiên của đồng cỏ ta.

:「

yē hé huá — yǐ sè liè de shén chì zé nà xiē mù yǎng tā bǎi xìng de mù rén , rú cǐ shuō :「 nǐ men gǎn sàn wǒ de yáng qún , bìng méi yǒu kàn gù tā men ; wǒ bì tǎo nǐ men zhè xíng è de zuì 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Vậy nên, về những kẻ chăn giữ dân Ngài, thì Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên phán như vầy: Các ngươi làm tan lạc bầy chiên ta, đã đuổi đi và không thăm nom đến; nầy, ta sẽ thăm phạt các ngươi về những việc dữ mình làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.

wǒ yào jiāng wǒ yáng qún zhōng suǒ yú shèng de , cóng wǒ gǎn tā men dào de gè guó nèi zhāo jù chū lái , lǐng tā men guī huí běn quān ; tā men yě bì shēng yǎng zhòng duō 。

Ta sẽ nhóm những con sót lại của bầy ta, từ các nước mà ta đã đuổi chúng nó đến. Ta sẽ đem chúng nó trở về trong chuồng mình; chúng nó sẽ sanh đẻ thêm nhiều.

。」

wǒ bì shè lì zhào guǎn tā men de mù rén , mù yǎng tā men 。 tā men bú zài jù pà , bú zài jīng huáng , yě bù quē shǎo yí gè ; zhè shì yē hé huá shuō de 。」

Ta sẽ lập lên những kẻ chăn nuôi chúng nó; thì sẽ chẳng sợ chẳng hãi nữa, và không thiếu một con nào, Đức Giê-hô-va phán vậy.

:「

yē hé huá shuō :「 rì zi jiāng dào , wǒ yào gěi dà wèi xīng qǐ yí gè gōng yì de miáo yì ; tā bì zhǎng wáng quán , xíng shì yǒu zhì huì , zài dì shàng shī xíng gōng píng hé gōng yì 。

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ dấy lên cho Đa-vít một Nhánh công bình. Ngài sẽ cai trị làm vua, lấy cách khôn ngoan mà ăn ở, làm sự chánh trực công bình trong đất.

』。」

zài tā de rì zi , yóu dà bì dé jiù , yǐ sè liè yě ān rán jū zhù 。 tā de míng bì chēng wéi 『 yē hé huá — wǒ men de yì 』。」

Đang đời vương đó, Giu-đa sẽ được cứu; Y-sơ-ra-ên sẽ ở yên ổn, và người ta sẽ xưng danh Đấng ấy là: Đức Giê-hô-va sự công bình chúng ta!

:「

yē hé huá shuō :「 rì zi jiāng dào , rén bì bú zài zhǐ zhe nà lǐng yǐ sè liè rén cóng āi jí dì shàng lái yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì ,

Đức Giê-hô-va phán: Vậy nên những ngày đến, bấy giờ người ta sẽ chẳng còn nói rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, tức là Đấng đã đem con cái Y-sơ-ra-ên lên khỏi đất Ê-díp-tô.

。」

què yào zhǐ zhe nà lǐng yǐ sè liè jiā de hòu yì cóng běi fāng hé gǎn tā men dào de gè guó zhōng shàng lái 、 yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì 。 tā men bì zhù zài běn dì 。」

Nhưng nói rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống, tức là Đấng đã đem lên và dắt dòng dõi nhà Y-sơ-ra-ên về từ phương bắc, từ các nước mà ta đã đuổi họ đến. Chúng nó sẽ ở trong đất mình.

lùn dào nà xiē xiān zhī , wǒ xīn zài wǒ lǐ miàn yōu shāng , wǒ gǔ tou dōu fā chàn ; yīn yē hé huá hé tā de shèng yán , wǒ xiàng zuì jiǔ de rén , xiàng bèi jiǔ suǒ shèng de rén 。

Về các tiên tri: Lòng ta tan nát trong ta; xương ta thảy đều run rẩy; ta như người say, như người xây xẩm vì rượu, bởi cớ Đức Giê-hô-va và những lời thánh của Ngài.

使

dì mǎn le xíng yín de rén ! yīn wàng zì dǔ zhòu , dì jiù bēi āi ; kuàng yě de cǎo chǎng dōu kū gān le 。 tā men suǒ xíng de dào nǎi shì è de ; tā men de yǒng lì shǐ de bú zhèng 。

Trong đất đầy những kẻ tà dâm; vì cớ bị rủa sả thì đất nên sầu thảm; những đồng cỏ nơi đồng vắng đều khô khan. Người ta chạy theo đường dữ, sức chúng nó là không công bình.

殿

lián xiān zhī dài jì sī dōu shì xiè dú de , jiù shì zài wǒ diàn zhōng wǒ yě kàn jiàn tā men de è 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Vì chính kẻ tiên tri thầy tế lễ đều là ô uế, ta thấy sự gian ác chúng nó đến trong nhà ta; Đức Giê-hô-va phán vậy.

使

yīn cǐ , tā men de dào lù bì xiàng hēi àn zhōng de huá dì , tā men bì bèi zhuī gǎn , zài zhè lù zhōng pú dǎo ; yīn wèi dāng zhuī tǎo zhī nián , wǒ bì shǐ zāi huò lín dào tā men 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Cho nên đường chúng nó sẽ như nơi trơn trợt trong tối tăm, sẽ bị đuổi và vấp ngã tại đó. Vì đến năm chúng nó bị thăm phạt, ta sẽ giáng tai vạ trên chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.

使

wǒ zài sā mǎ lì yà de xiān zhī zhōng céng jiàn yú wàng ; tā men jiè bā lì shuō yù yán , shǐ wǒ de bǎi xìng yǐ sè liè zǒu cuò le lù 。

Ta đã thấy rõ sự điên dại của bọn tiên tri xứ Sa-ma-ri; chúng nó nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri, khiến dân Y-sơ-ra-ên ta lầm lạc.

wǒ zài yē lù sā lěng de xiān zhī zhōng céng jiàn kě zēng wù de shì ; tā men xíng jiān yín , zuò shì xū wàng , yòu jiān gù è rén de shǒu , shèn zhì wú rén huí tóu lí kāi tā de è 。 tā men zài wǒ miàn qián dōu xiàng suǒ duō mǎ ; yē lù sā lěng de jū mín dōu xiàng é mó lā 。

Nhưng, nơi bọn tiên tri ở Giê-ru-sa-lem, ta đã thấy sự đáng gớm ghiếc: chúng nó phạm tội tà dâm, bước theo sự giả dối; chúng nó làm cho cứng vững tay kẻ dữ, đến nỗi chẳng ai xây bỏ sự ác của mình. Ta coi chúng nó thảy đều như Sô-đôm, và dân cư nó như Gô-mô-rơ.

suǒ yǐ wàn jūn zhī yē hé huá lùn dào xiān zhī rú cǐ shuō : wǒ bì jiāng yīn gěi tā men chī , yòu jiāng kǔ dǎn shuǐ gěi tā men hē ; yīn wèi xiè dú de shì chū yú yē lù sā lěng de xiān zhī , liú xíng biàn dì 。

Vậy nên, về phần bọn tiên tri đó, Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nầy, ta sẽ cho chúng nó ăn ngải cứu và uống mật đắng; vì các tiên tri ở Giê-ru-sa-lem đã làm cho sự vô đạo tràn ra trong cả xứ.

:「

wàn jūn zhī yē hé huá rú cǐ shuō :「 zhè xiē xiān zhī xiàng nǐ men shuō yù yán , nǐ men bú yào tīng tā men de huà 。 tā men yǐ xū kōng jiào xùn nǐ men , suǒ shuō de yì xiàng shì chū yú zì jǐ de xīn , bú shì chū yú yē hé huá de kǒu 。

Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Chớ nghe những lời của các tiên tri nói tiên tri với các ngươi. Chúng nó dạy cho các ngươi sự hư không, và nói sự hiện thấy bởi lòng mình chẳng phải bởi miệng Đức Giê-hô-va.

:『』;:『。』」

tā men cháng duì miǎo shì wǒ de rén shuō :『 yē hé huá shuō : nǐ men bì xiǎng píng ān 』; yòu duì yí qiè àn zì jǐ wán gěng zhī xīn ér xíng de rén shuō :『 bì méi yǒu zāi huò lín dào nǐ men 。』」

Chúng nó cứ bảo kẻ khinh dể ta rằng: Đức Giê-hô-va phán, các ngươi sẽ được bình an. Lại bảo những kẻ bước theo sự cứng cõi của lòng mình rằng: Chẳng có tai họa nào đến trên các ngươi hết.

yǒu shuí zhàn zài yē hé huá de huì zhōng dé yǐ tīng jiàn bìng huì wù tā de huà ne ? yǒu shuí liú xīn tīng tā de huà ne ?

Vậy ai đã đứng được trong sự bàn luận của Đức Giê-hô-va, để được ngắm xem và nghe lời Ngài? Ai đã suy xét và nghe lời Ngài?

忿

kàn nǎ ! yē hé huá de fèn nù hǎo xiàng bào fēng , yǐ jīng fā chū ; shì bào liè de xuán fēng , bì zhuǎn dào è rén de tóu shàng 。

Nầy, cơn giận của Đức Giê-hô-va đã phát ra như bão, như gió lốc, nổ trên đầu kẻ dữ.

yē hé huá de nù qì bì bù zhuǎn xiāo , zhí dào tā xīn zhōng suǒ nǐ dìng de chéng jiù le 。 mò hòu de rì zi nǐ men yào quán rán míng bái 。

Đức Giê-hô-va chưa làm trọn ý đã định trong lòng, thì cơn giận của Ngài sẽ chẳng trở lại. Trong ngày sau rốt, các ngươi sẽ rõ biết sự ấy.

wǒ méi yǒu dǎ fā nà xiē xiān zhī , tā men jìng zì bēn pǎo ; wǒ méi yǒu duì tā men shuō huà , tā men jìng zì yù yán 。

Ta chẳng sai những tiên tri nầy, mà chúng nó đã chạy; ta chẳng phán với, mà đã nói tiên tri.

使使

tā men ruò shì zhàn zài wǒ de huì zhōng , jiù bì shǐ wǒ de bǎi xìng tīng wǒ de huà , yòu shǐ tā men huí tóu lí kāi è dào hé tā men suǒ xíng de è 。

Nếu chúng nó có đứng trong sự bàn luận ta, thì đã khiến dân ta nghe lời ta, và đã làm cho dân từ đường dữ việc xấu mà trở lại rồi.

:「 ?」

yē hé huá shuō :「 wǒ qǐ wèi jìn chù de shén ne ? bù yě wèi yuǎn chù de shén ma ?」

Đức Giê-hô-va phán: Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần mà không phải là Đức Chúa Trời ở xa sao?

:「使?」:「

yē hé huá shuō :「 rén qǐ néng zài yǐn mì chù cáng shēn , shǐ wǒ kàn bú jiàn tā ne ?」 yē hé huá shuō :「 wǒ qǐ bù chōng mǎn tiān dì ma ?

Đức Giê-hô-va phán: Có người nào có thể giấu mình trong các nơi kín cho ta đừng thấy chăng? Đức Giê-hô-va phán: Há chẳng phải ta đầy dẫy các từng trời và đất sao?

:『!』

wǒ yǐ tīng jiàn nà xiē xiān zhī suǒ shuō de , jiù shì tuō wǒ míng shuō de jiǎ yù yán , tā men shuō :『 wǒ zuò le mèng ! wǒ zuò le mèng !』

Ta nghe điều những kẻ tiên tri nầy nói, chúng nó nhân danh ta mà nói tiên tri giả dối, rằng: Ta có chiêm bao; thật, ta có chiêm bao!

shuō jiǎ yù yán de xiān zhī , jiù shì yù yán běn xīn guǐ zhà de xiān zhī , tā men zhè yàng cún xīn yào dào jǐ shí ne ?

Những tiên tri ấy, theo sự dối trá của lòng mình mà nói tiên tri, chúng nó có lòng ấy cho đến chừng nào?

使

tā men gè rén jiāng suǒ zuò de mèng duì lín shè shù shuō , xiǎng yào shǐ wǒ de bǎi xìng wàng jì wǒ de míng , zhèng rú tā men liè zǔ yīn bā lì wàng jì wǒ de míng yí yàng 。

Chúng nó mỗi người thuật chiêm bao cùng kẻ lân cận, tưởng sẽ khiến dân quên danh ta cũng như tổ phụ chúng nó vì Ba-anh quên danh ta.

。」

dé mèng de xiān zhī kě yǐ shù shuō nà mèng ; dé wǒ huà de rén kě yǐ chéng shí jiǎng shuō wǒ de huà 。 kāng bǐ zěn néng yǔ mài zi bǐ jiào ne ? zhè shì yē hé huá shuō de 。」

Khi tiên tri nào có chiêm bao, hãy thuật chiêm bao ấy đi; còn kẻ nào đã lãnh lời ta, hãy truyền lại lời ta cách trung tín! Đức Giê-hô-va phán: Rơm rạ há xen vào với lúa mì sao?

:「?」

yē hé huá shuō :「 wǒ de huà qǐ bú xiàng huǒ , yòu xiàng néng dǎ suì pán shí de dà chuí ma ?」

Lời ta há chẳng như lửa, như búa đập vỡ đá sao? Đức Giê-hô-va phán vậy.

:「。」

yē hé huá shuō :「 nà xiē xiān zhī gè cóng lín shè tōu qiè wǒ de yán yǔ , yīn cǐ wǒ bì yǔ tā men fǎn duì 。」

Vậy nên Đức Giê-hô-va phán rằng: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ tiên tri ăn cắp lẫn nhau về lời của ta.

:「。」

yē hé huá shuō :「 nà xiē xiān zhī yòng shé tou , shuō shì yē hé huá shuō de ; wǒ bì yǔ tā men fǎn duì 。」

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ tiên tri dùng lưỡi mình nói ra, mà rằng: Ngài phán.

:「使。」

yē hé huá shuō :「 nà xiē yǐ huàn mèng wèi yù yán , yòu shù shuō zhè mèng , yǐ huǎng yán hé jīn kuā shǐ wǒ bǎi xìng zǒu cuò le lù de , wǒ bì yǔ tā men fǎn duì 。 wǒ méi yǒu dǎ fā tā men , yě méi yǒu fēn fù tā men 。 tā men yǔ zhè bǎi xìng háo wú yì chù 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。」

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, ta nghịch cùng những kẻ lấy chiêm bao giả dối mà nói tiên tri, thuật lại và lấy lời dối trá khoe khoang mà làm cho dân ta lầm lạc, nhưng ta không sai và cũng không bảo chúng nó; chúng nó cũng không làm ích gì cho dân nầy hết, Đức Giê-hô-va phán vậy.

:『?』:『。』

「 wú lùn shì bǎi xìng , shì xiān zhī , shì jì sī , wèn nǐ shuō :『 yē hé huá yǒu shén me mò shì ne ?』 nǐ jiù duì tā men shuō :『 shén me mò shì a ? yē hé huá shuō : wǒ yào piě qì nǐ men 。』

Nếu dân nầy, kẻ tiên tri hay là thầy tế lễ, hỏi ngươi rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va là gì? Khá đáp rằng: Gánh nặng gì? Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ từ bỏ các ngươi.

』,

wú lùn shì xiān zhī , shì jì sī , shì bǎi xìng , shuō 『 yē hé huá de mò shì 』, wǒ bì xíng fá nà rén hé tā de jiā 。

Còn như kẻ tiên tri, thầy tế lễ, và dân sẽ nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, thì ta sẽ phạt người ấy và nhà nó.

:『?』『?』

nǐ men gè rén yào duì lín shè , gè rén yào duì dì xiong rú cǐ shuō :『 yē hé huá huí dá shén me ?』『 yē hé huá shuō le shén me ne ?』

Vậy, nầy là câu mỗi người khá hỏi kẻ lân cận mình, mỗi người khá hỏi anh em mình rằng: Đức Giê-hô-va đã trả lời làm sao? Đức Giê-hô-va đã phán thể nào?

『 yē hé huá de mò shì 』 nǐ men bù kě zài tí , gè rén suǒ shuō de huà bì zuò zì jǐ de zhòng dàn , yīn wèi nǐ men miù yòng yǒng shēng shén 、 wàn jūn zhī yē hé huá — wǒ men shén de yán yǔ 。

Bấy giờ chớ nói gánh nặng của Đức Giê-hô-va nữa; vì lời của mỗi một người sẽ là gánh nặng của nó, vì các ngươi đã làm trái những lời của Đức Chúa Trời hằng sống, của Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời chúng ta.

:『?』『?』

nǐ men yào duì xiān zhī rú cǐ shuō :『 yē hé huá huí dá nǐ shén me ?』『 yē hé huá shuō le shén me ne ?』

Vậy ngươi khá hỏi kẻ tiên tri rằng: Đức Giê-hô-va đã trả lời cho ngươi làm sao? Hay là: Đức Giê-hô-va đã phán thể nào?

』,:『」。』

nǐ men ruò shuō 『 yē hé huá de mò shì 』, yē hé huá jiù rú cǐ shuō :『 yīn nǐ men shuō 「 yē hé huá de mò shì 」 zhè jù huà , wǒ yě dǎ fā rén dào nǐ men nà lǐ qù , gào sù nǐ men bù kě shuō 「 yē hé huá de mò shì 」。』

Nhưng nếu các ngươi nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Vì các ngươi nói lời nầy: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va, và ta đã sai đến cùng các ngươi đặng bảo các ngươi rằng: Chớ còn nói rằng: Gánh nặng của Đức Giê-hô-va,

suǒ yǐ wǒ bì quán rán wàng jì nǐ men , jiāng nǐ men hé wǒ suǒ cì gěi nǐ men bìng nǐ men liè zǔ de chéng piě qì le ;

nhân đó, nầy, ta sẽ quên hẳn các ngươi; ta sẽ bỏ các ngươi, và thành ta đã ban cho các ngươi và tổ phụ các ngươi, xa khỏi trước mặt ta.

使。」

yòu bì shǐ yǒng yuǎn de líng rǔ hé cháng jiǔ de xiū chǐ lín dào nǐ men , shì bù néng wàng jì de 。」

Ta sẽ khiến các ngươi chịu nhơ nhuốc đời đời, hổ thẹn vô cùng, không bao giờ quên được.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.