中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 8

đã biết 0/291

:「

yē hé huá shuō :「 dào nà shí , rén bì jiāng yóu dà wáng de hái gǔ hé tā shǒu lǐng de hái gǔ 、 jì sī de hái gǔ 、 xiān zhī de hái gǔ , bìng yē lù sā lěng jū mín de hái gǔ , dōu cóng fén mù zhōng qǔ chū lái ,

Đức Giê-hô-va phán: Trong thời đó, người ta sẽ bới xương của các vua Giu-đa, xương của các quan trưởng, xương của các thầy tế lễ, xương của các tiên tri, và xương của các dân cư Giê-ru-sa-lem ra khỏi mồ mả.

pāo sàn zài rì tou 、 yuè liàng , hé tiān shàng zhòng xīng zhī xià , jiù shì tā men cóng qián suǒ xǐ ài 、 suǒ shì fèng 、 suǒ suí cóng 、 suǒ qiú wèn 、 suǒ jìng bài de 。 zhè xiē hái gǔ bú zài shōu liàn , bú zài zàng mái , bì zài dì miàn shàng chéng wéi fèn tǔ ;

Người ta sẽ phơi những xương ấy ra dưới mặt trời, mặt trăng, và cơ binh trên trời, tức là những vật mà họ đã yêu mến, hầu việc, bước theo, tìm cầu, và thờ lạy. Những xương ấy sẽ chẳng được thâu lại, chẳng được chôn lại; sẽ như phân trên mặt đất.

。」

bìng qiě zhè è zú suǒ shèng xià de mín zài wǒ suǒ gǎn tā men dào de gè chù , nìng kě jiǎn sǐ bù jiǎn shēng 。 zhè shì wàn jūn zhī yē hé huá shuō de 。」

Mọi kẻ sót của họ hàng gian ác ấy còn lại trong mọi nơi ta đã đuổi chúng nó đến, chúng nó sẽ cầu chết hơn là sống, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.

nǐ yào duì tā men shuō , yē hé huá rú cǐ shuō : rén diē dǎo , bú zài qǐ lái ma ? rén zhuǎn qù , bú zài zhuǎn lái ma ?

Vậy ngươi khá bảo chúng nó rằng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người ta vấp ngã, há chẳng đứng dậy sao? Kẻ nào trở đi, há chẳng trở về sao?

zhè yē lù sā lěng de mín , wèi hé héng jiǔ bèi dào ne ? tā men shǒu dìng guǐ zhà , bù kěn huí tóu 。

Vậy thì làm sao mà dân sự Giê-ru-sa-lem nầy cứ mài miệt trong sự bội nghịch đời đời? Chúng nó khăng khăng giữ điều gian trá, chẳng chịu trở lại.

wǒ liú xīn tīng , tīng jiàn tā men shuō bú zhèng zhí de huà 。 wú rén huǐ gǎi è xíng , shuō : wǒ zuò de shì shén me ne ? tā men gè rén zhuǎn bēn jǐ lù , rú mǎ zhí chuǎng zhàn chǎng 。

Ta đã lắng tai và nghe: chúng nó chẳng nói ngay thẳng, chẳng có ai ăn năn điều ác của mình, mà rằng: Ta đã làm gì? Thảy đều dong ruổi như ngựa xông vào trận.

kōng zhōng de guàn niǎo zhī dào lái qù de dìng qī ; bān jiū yàn zi yǔ bái hè yě shǒu hòu dāng lái de shí lìng ; wǒ de bǎi xìng què bù zhī dào yē hé huá de fǎ zé 。

Chim hạc giữa khoảng không tự biết các mùa nhất định cho nó; chim cu, chim yến, chim nhạn, giữ kỳ dời chỗ ở. Nhưng dân ta chẳng biết luật pháp của Đức Giê-hô-va!

nǐ men zěn me shuō : wǒ men yǒu zhì huì , yē hé huá de lǜ fǎ zài wǒ men zhè lǐ ? kàn nǎ , wén shì de jiǎ bǐ wǔ nòng xū jiǎ 。

Sao các ngươi nói được rằng: Chúng ta là khôn sáng, có luật pháp Đức Giê-hô-va ở với chúng ta? Nhưng, nầy, ngọn bút giả dối của bọn thông giáo đã làm cho luật pháp ấy ra sự nói dối!

zhì huì rén cán kuì , jīng huáng , bèi qín ná ; tā men qì diào yē hé huá de huà , xīn lǐ hái yǒu shén me zhì huì ne ?

Những kẻ khôn sáng bị xấu hổ, sợ hãi, và bị bắt. Chúng nó đã bỏ lời của Đức Giê-hô-va; thì sự khôn ngoan nó là thể nào?

suǒ yǐ wǒ bì jiāng tā men de qī zǐ gěi bié rén , jiāng tā men de tián dì gěi bié rén wéi yè ; yīn wèi tā men cóng zuì xiǎo de dào zhì dà de dōu yí wèi dì tān lán , cóng xiān zhī dào jì sī dōu xíng shì xū huǎng 。

Vậy nên, ta sẽ ban vợ chúng nó cho kẻ khác, ruộng chúng nó cho chủ mới; vì từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, ai nấy đều tham lam; từ tiên tri cho đến thầy tế lễ, ai nấy đều làm sự gian dối.

tā men qīng qīng hū hū dì yī zhì wǒ bǎi xìng de sǔn shāng , shuō : píng ān le ! píng ān le ! qí shí méi yǒu píng ān 。

Chúng nó rịt vết thương cho con gái dân ta cách sơ sài, nói rằng: Bình an, bình an! mà không bình an chi hết.

tā men xíng kě zēng de shì zhī dào cán kuì ma ? bù rán , tā men háo bù cán kuì , yě bù zhī xiū chǐ 。 yīn cǐ tā men bì zài pú dǎo de rén zhōng pú dǎo ; wǒ xiàng tā men tǎo zuì de shí hòu , tā men bì zhì diē dǎo 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Chúng nó làm ra sự gớm ghiếc, há lấy làm xấu hổ ư? đã chẳng xấu hổ chút nào, lại cũng không thẹn đỏ mặt. Vậy nên chúng nó sẽ ngã với những người vấp ngã. Đến ngày thăm phạt, chúng nó sẽ bị lật đổ, Đức Giê-hô-va phán vậy.

使

yē hé huá shuō : wǒ bì shǐ tā men quán rán miè jué ; pú táo shù shàng bì méi yǒu pú táo , wú huā guǒ shù shàng bì méi yǒu guǒ zǐ , yè zǐ yě bì kū gān 。 wǒ suǒ cì gěi tā men de , bì lí kāi tā men guò qù 。

Đức Giê-hô-va phán: Thật, ta sẽ diệt hết chúng nó. Chẳng còn trái nho trên cây nho; chẳng còn trái vả trên cây vả; lá sẽ khô rụng; những điều ta đã ban cho, sẽ bị cất lấy!

使

wǒ men wèi hé jìng zuò bú dòng ne ? wǒ men dāng jù jí , jìn rù jiān gù chéng , zài nà lǐ jìng mò bù yán ; yīn wèi yē hé huá — wǒ men de shén shǐ wǒ men jìng mò bù yán , yòu jiāng kǔ dǎn shuǐ gěi wǒ men hē , dōu yīn wǒ men dé zuì le yē hé huá 。

Sao chúng ta cứ ngồi yên? Hãy nhóm lại và vào các thành bền vững, và nín lặng tại đó! Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta đã khiến chúng ta nín lặng, Ngài cho chúng ta uống mật đắng, vì chúng ta đã phạm tội nghịch cùng Đức Giê-hô-va.

wǒ men zhǐ wàng píng ān , què dé bù zhe hǎo chù ; zhǐ wàng quán yù de shí hòu , bú liào , shòu le jīng huáng 。

Chúng ta trông sự bình an, nhưng chẳng có sự tốt gì đến; trông kỳ chữa lành, mà sự sợ hãi đây nầy!

tīng jiàn cóng dàn nà lǐ dí rén de mǎ pēn bí qì , tā de zhuàng mǎ fā sī shēng , quán dì jiù dōu zhèn dòng ; yīn wèi tā men lái tūn miè zhè dì hé qí shàng suǒ yǒu de , tūn miè zhè chéng yǔ qí zhōng de jū mín 。

Về phía thành Đan, nghe tiếng thét của ngựa nó; nghe tiếng ngựa chiến nó hí lên, khắp đất đều run rẩy; vì chúng nó đã đến; nuốt đất và mọi vật trong nó, nuốt thành và dân cư nó.

使

kàn nǎ , wǒ bì shǐ dú shé dào nǐ men zhōng jiān , shì bù fú fǎ shù de , bì yǎo nǐ men 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Nầy, ta sẽ sai rắn, bọ cạp đến giữa các ngươi, chẳng ai ếm chú được nó; chúng nó sẽ cắn các ngươi, Đức Giê-hô-va phán vậy.

wǒ yǒu yōu chóu , yuàn néng zì wèi ; wǒ xīn zài wǒ lǐ miàn fā hūn 。

Ước gì tôi được yên ủi, khỏi sự lo buồn! Lòng tôi mỏi mệt trong tôi!

tīng a , shì wǒ bǎi xìng de āi shēng cóng jí yuǎn zhī dì ér lái , shuō : yē hé huá bú zài xī ān ma ? xī ān de wáng bú zài qí zhōng ma ? yē hé huá shuō : tā men wèi shén me yǐ diāo kè de ǒu xiàng hé wài bāng xū wú de shén rě wǒ fā nù ne ?

Nầy, có tiếng kêu la của con gái dân ta, kêu từ đất xa lắm, rằng: Đức Giê-hô-va không còn ở trong Si-ôn sao? Vua của thành ấy không còn ở giữa thành sao? Sao chúng nó dùng tượng chạm của mình và vật hư không của dân ngoại mà chọc giận ta vậy?

mài qiū yǐ guò , xià lìng yǐ wán , wǒ men hái wèi dé jiù !

Mùa gặt đã qua, mùa hạ đã hết, mà chúng ta chưa được cứu rỗi!

xiān zhī shuō : yīn wǒ bǎi xìng de sǔn shāng , wǒ yě shòu le sǔn shāng 。 wǒ āi tòng , jīng huáng jiāng wǒ zhuā zhù 。

Con gái dân ta bị thương, ta vì đó bị thương; ta đang sầu thảm; bị sự kinh hãi bắt lấy.

zài jī liè qǐ méi yǒu rǔ xiāng ne ? zài nà lǐ qǐ méi yǒu yī shēng ne ? wǒ bǎi xìng wèi hé bù dé quán yù ne ?

Trong Ga-la-át há chẳng có nhũ hương sao? há chẳng có thầy thuốc ở đó sao? Vậy thì làm sao mà bịnh con gái dân ta chẳng chữa lành?

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.