中文圣经

MA-LA-CHI 1

đã biết 0/171

yē hé huá jiè mǎ lā jī chuán gěi yǐ sè liè de mò shì 。

Gánh nặng lời Đức Giê-hô-va cho Y-sơ-ra-ên bởi Ma-la-chi.

:「。」:「?」:「

yē hé huá shuō :「 wǒ céng ài nǐ men 。」 nǐ men què shuō :「 nǐ zài hé shì shàng ài wǒ men ne ?」 yē hé huá shuō :「 yǐ sǎo bú shì yǎ gè de gē ge ma ? wǒ què ài yǎ gè ,

Đức Giê-hô-va có phán: Ta yêu các ngươi; và các ngươi nói rằng: Chúa yêu chúng tôi ở đâu? Đức Giê-hô-va phán: Ê-sau há chẳng phải là anh Gia-cốp sao?

使。」

è yǐ sǎo , shǐ tā de shān lǐng huāng liáng , bǎ tā de dì yè jiāo gěi kuàng yě de yě gǒu 。」

Nhưng ta yêu Gia-cốp, mà ghét Ê-sau, ta làm cho những núi nó nên hoang vu, và phó sản nghiệp nó cho những chó nơi đồng vắng.

:「。」:「』;』。」

yǐ dōng rén shuō :「 wǒ men xiàn zài suī bèi huǐ huài , què yào chóng jiàn huāng fèi zhī chù 。」 wàn jūn zhī yē hé huá rú cǐ shuō :「 rèn tā men jiàn zào , wǒ bì chāi huǐ ; rén bì chēng tā men de dì wèi 『 zuì è zhī jìng 』; chēng tā men de mín wèi 『 yē hé huá yǒng yuǎn nǎo nù zhī mín 』。」

Nếu Ê-đôm nói rằng: Chúng ta đã bị hủy diệt, song chúng ta sẽ trở về dựng lại những nơi đổ nát, thì Đức Giê-hô-va vạn quân cũng phán rằng: Chúng nó sẽ dựng lại, nhưng ta sẽ đổ xuống, người ta sẽ gọi chúng nó là Cõi độc ác, và là dân mà Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng đời đời.

:「!」

nǐ men bì qīn yǎn kàn jiàn , yě bì shuō :「 yuàn yē hé huá zài yǐ sè liè jìng jiè zhī wài bèi zūn wèi dà !」

Mắt các ngươi sẽ thấy, và các ngươi sẽ nói rằng: Nguyền Đức Giê-hô-va là lớn ngoài cõi Y-sơ-ra-ên!

:『?』

「 miǎo shì wǒ míng de jì sī a , wàn jūn zhī yē hé huá duì nǐ men shuō : ér zi zūn jìng fù qīn , pú rén jìng wèi zhǔ rén ; wǒ jì wèi fù qīn , zūn jìng wǒ de zài nǎ lǐ ne ? wǒ jì wéi zhǔ rén , jìng wèi wǒ de zài nǎ lǐ ne ? nǐ men què shuō :『 wǒ men zài hé shì shàng miǎo shì nǐ de míng ne ?』

Con trai tôn kính cha mình, đầy tớ tôn kính chủ mình. Vậy nếu ta là cha, nào sự tôn kính thuộc về ta ở đâu? và nếu ta là chủ, nào sự kính sợ ta ở đâu? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy cùng các ngươi, hỡi các thầy tế lễ khinh dể danh ta! Các ngươi lại nói rằng: Chúng tôi có khinh dể danh Ngài ở đâu?

:『?』

nǐ men jiāng wū huì de shí wù xiàn zài wǒ de tán shàng , qiě shuō :『 wǒ men zài hé shì shàng wū huì nǐ ne ?』 yīn nǐ men shuō , yē hé huá de zhuō zi shì kě miǎo shì de 。

Các ngươi dâng bánh ô uế trên bàn thờ ta, rồi các ngươi nói rằng: Chúng tôi có làm ô uế Ngài ở đâu? Aáy là ở điều các ngươi nói rằng: Bàn của Đức Giê-hô-va đáng khinh dể.

nǐ men jiāng xiā yǎn de xiàn wèi jì wù , zhè bú wèi è ma ? jiāng qué tuǐ de 、 yǒu bìng de xiàn shàng , zhè bú wèi è ma ? nǐ xiàn gěi nǐ de shěng zhǎng , tā qǐ xǐ yuè nǐ , qǐ néng kàn nǐ de qíng miàn ma ? zhè shì wàn jūn zhī yē hé huá shuō de 。

Khi các ngươi dâng một con vật mù làm của lễ, điều đó há chẳng phải là dữ sao? Khi các ngươi dâng một con vật què hoặc đau, điều đó há chẳng phải là dữ sao? Thử dân nó cho quan trấn thủ ngươi, thì người há đẹp lòng và vui nhận cho ngươi sao? Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vậy.

「 xiàn zài wǒ quàn nǐ men kěn qiú shén , tā hǎo shī ēn yǔ wǒ men 。 zhè wàng xiàn de shì , jì yóu nǐ men jīng shǒu , tā qǐ néng kàn nǐ men de qíng miàn ma ? zhè shì wàn jūn zhī yē hé huá shuō de 。

Các ngươi đã làm điều đó, nay ta xin các ngươi hãy nài xin ơn Đức Chúa Trời, hầu cho Ngài làm ơn cho chúng ta, thì Ngài há sẽ nhận một người nào trong các ngươi sao? Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.

殿

shèn yuàn nǐ men zhōng jiān yǒu yì rén guān shàng diàn mén , miǎn de nǐ men tú rán zài wǒ tán shàng shāo huǒ 。 wàn jūn zhī yē hé huá shuō : wǒ bù xǐ yuè nǐ men , yě bù cóng nǐ men shǒu zhōng shōu nà gòng wù 。

Ước gì trong các ngươi có một người đóng các cửa, hầu cho các ngươi không nhen lửa vô ích nơi bàn thờ ta. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ta chẳng lấy làm vui lòng nơi các ngươi, và ta chẳng nhận nơi tay các ngươi một của dâng nào hết.

wàn jūn zhī yē hé huá shuō : cóng rì chū zhī dì dào rì luò zhī chù , wǒ de míng zài wài bāng zhōng bì zūn wèi dà 。 zài gè chù , rén bì fèng wǒ de míng shāo xiāng , xiàn jié jìng de gòng wù , yīn wèi wǒ de míng zài wài bāng zhōng bì zūn wèi dà 。

Vì từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, danh ta sẽ là lớn giữa các dân ngoại. Trong khắp mọi nơi, người ta sẽ dâng hương và của lễ thanh sạch cho danh ta; vì danh ta sẽ là lớn giữa các dân ngoại, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.

:『。』

nǐ men què xiè dú wǒ de míng , shuō :『 yē hé huá de zhuō zi shì wū huì de , qí shàng de shí wù shì kě miǎo shì de 。』

Song các ngươi đã làm uế tục danh ta mà rằng: Bàn của Đức Giê-hô-va là ô uế, đồ ăn đến từ trên nó là đáng khinh dể.

:『!』

nǐ men yòu shuō :『 zhè xiē shì hé děng fán suǒ !』 bìng chī zhī yǐ bí 。 zhè shì wàn jūn zhī yē hé huá shuō de 。 nǐ men bǎ qiǎng duó de 、 qué tuǐ de 、 yǒu bìng de ná lái xiàn shàng wèi jì 。 wǒ qǐ néng cóng nǐ men shǒu zhōng shōu nà ne ? zhè shì yē hé huá shuō de 。

Các ngươi lại nói rằng: Oâi! việc khó nhọc là dường nào! rồi các ngươi khinh dể nó, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy! Các ngươi đem đến vật bị cướp, vật què và đang, đó là của các ngươi đem dâng cho ta. Ta há có thể nhận vật nầy nơi tay các ngươi sao? Đức Giê-hô-va phán vậy.

xíng guǐ zhà de zài qún zhōng yǒu gōng yáng , tā xǔ yuàn què yòng yǒu cán jí de xiàn gěi zhǔ , zhè rén shì kě zhòu zǔ de 。 yīn wèi wǒ shì dà jūn wáng , wǒ de míng zài wài bāng zhōng shì kě wèi de 。 zhè shì wàn jūn zhī yē hé huá shuō de 。

Đáng rủa thay là kẻ hay lừa dối, trong bầy nó có con đực, mà nó hứa nguyện và dâng con tàn tật làm của lễ cho Chúa! Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Vì ta là Vua lớn, danh ta là đáng sợ giữa các dân ngoại.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.