中文圣经

MA-THI-Ơ 11

đã biết 0/266

yē sū fēn fù wán le shí èr gè mén tú , jiù lí kāi nà lǐ , wǎng gè chéng qù chuán dào 、 jiào xùn rén 。

Vả, Đức Chúa Jêsus đã dạy các điều đó cho mười hai môn đồ rồi, bèn lìa khỏi chỗ nầy đặng đi giảng dạy trong các thành xứ đó.

yuē hàn zài jiān lǐ tīng jiàn jī dū suǒ zuò de shì , jiù dǎ fā liǎng gè mén tú qù ,

Khi Giăng ở trong ngục nghe nói về các công việc của Đấng Christ, thì sai môn đồ mình đến thưa cùng Ngài rằng:

:「?」

wèn tā shuō :「 nà jiāng yào lái de shì nǐ ma ? hái shì wǒ men děng hòu bié rén ne ?」

Thầy có phải là Đấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi Đấng khác chăng?

:「

yē sū huí dá shuō :「 nǐ men qù , bǎ suǒ tīng jiàn 、 suǒ kàn jiàn de shì gào sù yuē hàn 。

Đức Chúa Jêsus đáp rằng: hãy về thuật lại cùng Giăng những điều các ngươi nghe và thấy:

jiù shì xiā zǐ kàn jiàn , qué zǐ xíng zǒu , zhǎng dà má fēng de jié jìng , lóng zǐ tīng jiàn , sǐ rén fù huó , qióng rén yǒu fú yīn chuán gěi tā men 。

kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng tin lành.

!」

fán bù yīn wǒ diē dǎo de jiù yǒu fú le !」

Phước cho ai chẳng vấp phạm vì cớ ta!

:「

tā men zǒu de shí hòu , yē sū jiù duì zhòng rén jiǎng lùn yuē hàn shuō :「 nǐ men cóng qián chū dào kuàng yě shì yào kàn shén me ne ? yào kàn fēng chuī dòng de lú wěi ma ?

Khi họ ra về, Đức Chúa Jêsus mới phán về việc Giăng cho đoàn dân nghe, rằng: Các ngươi đã đi xem chi trong đồng vắng? Có phải xem cây sậy bị gió rung chăng?

穿穿

nǐ men chū qù dào dǐ shì yào kàn shén me ? yào kàn chuān xì ruǎn yī fu de rén ma ? nà chuān xì ruǎn yī fu de rén shì zài wáng gōng lǐ 。

Các ngươi đi xem cái chi nữa? Có phải xem người mặc áo tốt đẹp chăng? Kìa, những người mặc áo tốt đẹp thì ở trong đền vua.

nǐ men chū qù jiū jìng shì wèi shén me ? shì yào kàn xiān zhī ma ? wǒ gào sù nǐ men , shì de , tā bǐ xiān zhī dà duō le 。

Nhưng các ngươi lại đi xem cái chi nữa? Có phải là xem đấng tiên tri chăng? Phải, ta nói cùng các ngươi, cũng hơn đấng tiên tri nữa.

:『使』,

jīng shàng jì zhe shuō :『 wǒ yào chāi qiǎn wǒ de shǐ zhě zài nǐ qián miàn yù bèi dào lù 』, suǒ shuō de jiù shì zhè ge rén 。

Aáy vì người đó mà có chép rằng: Nầy, ta sai sứ ta đến trước mặt con, Đặng dọn đường sẵn cho con đi.

wǒ shí zài gào sù nǐ men , fán fù rén suǒ shēng de , méi yǒu yí gè xīng qǐ lái dà guò shī xǐ yuē hàn de ; rán ér tiān guó lǐ zuì xiǎo de bǐ tā hái dà 。

Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong những người bởi đàn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp-tít, nhưng mà kẻ rất nhỏ hèn trong nước thiên đàng còn được tôn trọng hơn người.

cóng shī xǐ yuē hàn de shí hòu dào rú jīn , tiān guó shì nǔ lì jìn rù de , nǔ lì de rén jiù dé zhe le 。

Song, từ ngày Giăng Báp-tít đến nay, nước thiên đàng bị hãm ép, và là kẻ hãm ép đó choán lấy.

yīn wèi zhòng xiān zhī hé lǜ fǎ shuō yù yán , dào yuē hàn wéi zhǐ 。

Vì hết thảy các đấng tiên tri và sách luật đã nói trước cho đến đời Giăng.

nǐ men ruò kěn lǐng shòu , zhè rén jiù shì nà yīng dāng lái de yǐ lì yà 。

Nếu các ngươi muốn hiểu biết, thì ấy là Ê-li, là đấng phải đến.

yǒu ěr kě tīng de , jiù yīng dāng tīng !

Ai có tai mà nghe, hãy nghe.

wǒ kě yòng shén me bǐ zhè shì dài ne ? hǎo xiàng hái tóng zuò zài jiē shì shàng zhāo hū tóng bàn , shuō :

Ta sẽ sánh dòng dõi nầy với ai? Dòng dõi nầy giống như con trẻ ngồi giữa chợ, kêu la cùng bạn mình,

wǒ men xiàng nǐ men chuī dí , nǐ men bú tiào wǔ ; wǒ men xiàng nǐ men jǔ āi , nǐ men bù chuí xiōng 。

mà rằng: Ta đã thổi sáo, mà bay không nhảy múa; ta đã than vãn, mà bay không khóc.

yuē hàn lái le , yě bù chī yě bù hē , rén jiù shuō tā shì bèi guǐ fù zhuó de ;

Vì Giăng đã đến, không ăn, không uống, người ta nói rằng: Giăng bị quỉ ám.

。」

rén zǐ lái le , yě chī yě hē , rén yòu shuō tā shì tān shí hǎo jiǔ de rén , shì shuì lì hé zuì rén de péng yǒu 。 dàn zhì huì zhī zǐ zǒng yǐ zhì huì wèi shì 。」

Con người đến, hay ăn hay uống, thì họ nói rằng: Kìa, là người ham ăn mê uống, bạn bè với người thâu thuế cùng kẻ xấu nết. Song le, sự khôn ngoan được xưng là phải, bởi những việc làm của sự ấy.

yē sū zài zhū chéng zhōng háng le xǔ duō yì néng , nà xiē chéng de rén zhōng bù huǐ gǎi , jiù zài nà shí hòu zé bèi tā men , shuō :

Vì dân các thành mà Đức Chúa Jêsus đã làm rất nhiều phép lạ rồi, không ăn năn, nên Ngài quở trách rằng:

西

「 gē lā xùn nǎ , nǐ yǒu huò le ! bó sài dà a , nǐ yǒu huò le ! yīn wèi zài nǐ men zhōng jiān suǒ xíng de yì néng , ruò xíng zài tài ěr 、 xī dùn , tā men zǎo yǐ pī má méng huī huǐ gǎi le 。

Khốn nạn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn nạn cho mầy thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa bay, đem làm trong thành Ty-rơ và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi.

西

dàn wǒ gào sù nǐ men , dāng shěn pàn de rì zi , tài ěr 、 xī dùn suǒ shòu de , bǐ nǐ men hái róng yì shòu ne !

Vậy nên ta bảo bay, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn bay.

jiā bǎi nóng a , nǐ yǐ jīng shēng dào tiān shàng , jiāng lái bì zhuì luò yīn jiān ; yīn wèi zài nǐ nà lǐ suǒ xíng de yì néng , ruò xíng zài suǒ duō mǎ , tā hái kě yǐ cún dào jīn rì 。

Còn mầy, Ca-bê-na-um là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa mầy, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay.

!」

dàn wǒ gào sù nǐ men , dāng shěn pàn de rì zi , suǒ duō mǎ suǒ shòu de , bǐ nǐ hái róng yì shòu ne !」

Vậy nên ta rao bảo rằng, đến ngày phán xét, xứ Sô-đôm sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn mầy.

:「

nà shí , yē sū shuō :「 fù a , tiān dì de zhǔ , wǒ gǎn xiè nǐ ! yīn wèi nǐ jiāng zhè xiē shì xiàng cōng ming tōng dá rén jiù cáng qǐ lái , xiàng yīng hái jiù xiǎn chū lái 。

Lúc đó, Đức Chúa Jêsus nói rằng: Hỡi Cha! là Chúa của trời đất, tôi khen ngợi Cha, vì Cha đã giấu những điều này với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho những con trẻ hay.

fù a , shì de , yīn wèi nǐ de měi yì běn shì rú cǐ 。

Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành.

yí qiè suǒ yǒu de , dōu shì wǒ fù jiāo fù wǒ de ; chú le fù , méi yǒu rén zhī dào zǐ ; chú le zǐ hé zǐ suǒ yuàn yì zhǐ shì de , méi yǒu rén zhī dào fù 。

Mọi việc Cha ta đã giao cho ta; ngoài Cha không có ai biết Con; ngoài Con và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì cũng không ai biết Cha.

使

fán láo kǔ dān zhòng dàn de rén kě yǐ dào wǒ zhè lǐ lái , wǒ jiù shǐ nǐ men dé ān xī 。

Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.

wǒ xīn lǐ róu hé qiān bēi , nǐ men dāng fù wǒ de è , xué wǒ de yàng shì ; zhè yàng , nǐ men xīn lǐ jiù bì dé xiǎng ān xī 。

Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.

。」

yīn wèi wǒ de è shì róng yì de , wǒ de dàn zi shì qīng shěng de 。」

Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.