中文圣经

II LỊCH SỬ 16

đã biết 0/199

yà sā sān shí liù nián , yǐ sè liè wáng bā shā shàng lái gōng jī yóu dà , xiū zhù lā mǎ , bù xǔ rén cóng yóu dà wáng yà sā nà lǐ chū rù 。

Năm thứ ba mươi sáu đời A-sa, Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, đi lên đánh Giu-đa, cất đồn lũy Ra-ma, để làm cho dân sự của A-sa, vua Giu-đa, không ra vào được.

殿便

yú shì yà sā cóng yē hé huá diàn hé wáng gōng de fǔ kù lǐ ná chū jīn yín lái , sòng yǔ zhù dà mǎ shì gé de yà lán wáng biàn hǎ dá , shuō :

Khi ấy A-sa lấy bạc vàng ở trong kho của đền Đức Giê-hô-va và trong kho của cung vua, gởi đến Bên-Ha-đát, vua Sy-ri, ở tại Đa-mách, mà rằng:

使。」

「 nǐ fù céng yǔ wǒ fù lì yuē , wǒ yǔ nǐ yě yào lì yuē 。 xiàn zài wǒ jiāng jīn yín sòng gěi nǐ , qiú nǐ fèi diào nǐ yǔ yǐ sè liè wáng bā shā suǒ lì de yuē , shǐ tā lí kāi wǒ 。」

Chúng ta hãy lập giao ước với nhau, y như thân phụ của tôi và thân phụ của ông đã làm. Kìa, tôi gởi dâng cho ông bạc và vàng: hãy đi hủy ước của ông với Ba-ê-sa, vua Y-sơ-ra-ên, để người xa khỏi tôi.

便··

biàn · hǎ dá tīng cóng yà sā wáng de huà , pài jūn zhǎng qù gōng jī yǐ sè liè de chéng yì 。 tā men jiù gōng pò yǐ yún 、 dàn 、 yà bó · mǎ yīn , hé ná fú tā lì yí qiè de jī huò chéng 。

Bên-Ha-đát nghe theo lời vua A-sa, bèn sai các tướng đạo binh mình đi hãm đánh các thành của Y-sơ-ra-ên, chiếm lấy Y-giôn, Đan, A-bên-Ma-im, cùng các thành kho tàng của đất Nép-ta-li.

bā shā tīng jiàn jiù tíng gōng , bù xiū zhù lā mǎ le 。

Xảy khi Ba-ê-ba hay điều đó, liền thôi xây đồn Ra-ma và bãi công việc.

yú shì yà sā wáng shuài lǐng yóu dà zhòng rén , jiāng bā shā xiū zhù lā mǎ suǒ yòng de shí tou 、 mù tou dōu yùn qù , yòng yǐ xiū zhù jiā bā hé mǐ sī bā 。

Vua A-sa bèn nhóm hết thảy người Giu-đa; chúng lấy đem đi đá và gỗ mà Ba-ê-sa đã dùng xây cất Ra-ma; rồi A-sa dùng đồ ấy xây cất Ghê-ba và Mích-ba.

:「

nà shí , xiān jiàn hā ná ní lái jiàn yóu dà wáng yà sā , duì tā shuō :「 yīn nǐ yǎng lài yà lán wáng , méi yǒu yǎng lài yē hé huá — nǐ de shén , suǒ yǐ yà lán wáng de jūn bīng tuō lí le nǐ de shǒu 。

Trong khi ấy, đấng tiên kiến Ha-na-ni đến cùng A-sa, vua Giu-đa, mà nói rằng: Bởi vì vua nương cậy vua Sy-ri, không nương cậy nơi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ông, nên đạo quân vua Sy-ri đã thoát khỏi tay ông.

便

gǔ shí rén 、 lù bǐ rén de jūn duì bú shì shèn dà ma ? zhàn chē mǎ bīng bú shì jí duō ma ? zhī yīn nǐ yǎng lài yē hé huá , tā biàn jiāng tā men jiāo zài nǐ shǒu lǐ 。

Dân Ê-thi-ô-bi và dân Li-by há chẳng phải một đạo quân đông lắm sao? Xe và lính kỵ họ há chẳng phải nhiều lắm ư? Dẫu vậy, bởi vua nhờ cậy Đức Giê-hô-va, nên Ngài phó chúng nó vào tay vua.

。」

yē hé huá de yǎn mù biàn chá quán dì , yào xiǎn dà néng bāng zhù xiàng tā xīn cún chéng shí de rén 。 nǐ zhè shì xíng dé yú mèi ; cǐ hòu , nǐ bì yǒu zhēng zhàn de shì 。」

Vì con mắt của Đức Giê-hô-va soi xét khắp thế gian, đặng giúp sức cho kẻ nào có lòng trọn thành đối với Ngài. Trong việc này vua có cư xử cách dại dột, nên từ này về sau vua sẽ có giặc giã.

yà sā yīn cǐ nǎo hèn xiān jiàn , jiāng tā qiú zài jiān lǐ 。 nà shí yà sā yě nüè dài yì xiē rén mín 。

A-sa nổi giận đấng tiên kiến, đem cầm tù người; vì tại việc ấy, vua tức giận người lắm. Trong lúc đó, A-sa cũng hà hiếp mấy người của dân sự.

yà sā suǒ xíng de shì , zì shǐ zhì zhōng dōu xiě zài yóu dà hé yǐ sè liè zhū wáng jì shàng 。

Nầy các công việc của A-sa, từ đầu đến cuối, đều đã chép trong sách các vua Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.

yà sā zuò wáng sān shí jiǔ nián , tā jiǎo shàng yǒu bìng , ér qiě shèn zhòng 。 bìng de shí hòu méi yǒu qiú yē hé huá , zhī qiú yī shēng 。

Năm thứ ba mươi chín đời A-sa trị vì, A-sa bị đau chân, đến đỗi nặng lắm; trong cơn bịnh người không tìm kiếm Đức Giê-hô-va, nhưng tìm kiếm những thầy thuốc.

tā zuò wáng sì shí yī nián ér sǐ , yǔ tā liè zǔ tóng shuì ,

A-sa an giấc cùng tổ phụ người, băng hà năm thứ bốn mươi mốt đời người trị vì.

zàng zài dà wèi chéng zì jǐ suǒ záo de fén mù lǐ , fàng zài chuáng shàng , qí chuáng duī mǎn gè yàng xīn xiāng de xiāng liào , jiù shì àn zuò xiāng de zuò fǎ tiáo hé de xiāng liào , yòu wèi tā shāo le xǔ duō de wù jiàn 。

Người ta chôn người nơi mồ mả chính người đã đào cho mình trong thành Đa-vít, để người nằm trên một cái giường đầy thuốc thơm, chế theo phép hòa hương; đoạn người ta xông hương cho người rất nhiều.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.