中文圣经

II SA-MU-ÊN 12

đã biết 0/324

:「

yē hé huá chāi qiǎn ná dān qù jiàn dà wèi 。 ná dān dào le dà wèi nà lǐ , duì tā shuō :「 zài yí zuò chéng lǐ yǒu liǎng gè rén : yí gè shì fù hù , yí gè shì qióng rén 。

Đức Giê-hô-va sai Na-than đến cùng Đa-vít. Vậy, Na-than đến cùng người mà rằng: Trong một thành kia có hai người, người nầy giàu, còn người kia nghèo.

fù hù yǒu xǔ duō niú qún yáng qún ;

Người giàu có chiên bò rất nhiều;

怀

qióng rén chú le suǒ mǎi lái yǎng huó de yì zhī xiǎo mǔ yáng gāo zhī wài , bié wú suǒ yǒu 。 yáng gāo zài tā jiā lǐ hé tā ér nǚ yì tóng zhǎng dà , chī tā suǒ chī de , hē tā suǒ hē de , shuì zài tā huái zhōng , zài tā kàn lái rú tóng nǚ ér yí yàng 。

nhưng người nghèo, nếu chẳng kể một con chiên cái nhỏ mà người đã mua, thì chẳng có gì hết. Người nuôi nó; nó cùng lớn lên với con cái người tại nhà người, ăn đồ người ăn, uống đồ người uống, và ngủ trên lòng người; nó như một con gái của người vậy.

。」

yǒu yí kè rén lái dào zhè fù hù jiā lǐ ; fù hù shè bù dé cóng zì jǐ de niú qún yáng qún zhōng qǔ yì zhī yù bèi gěi kè rén chī , què qǔ le nà qióng rén de yáng gāo , yù bèi gěi kè rén chī 。」

Vả, có người khách đến người giàu; người giàu tiếc không muốn đụng đến chiên bò của mình đặng dọn một bữa ăn cho người khách đã đến, bèn bắt con chiên con của người nghèo và dọn cho kẻ khách đã đến thăm mình.

:「

dà wèi jiù shèn nǎo nù nà rén , duì ná dān shuō :「 wǒ zhǐ zhe yǒng shēng de yē hé huá qǐ shì , xíng zhè shì de rén gāi sǐ !

Đa-vít bèn nổi giận lắm cùng người ấy, và nói cùng Na-than rằng: Ta chỉ Đức Giê-hô-va hằng sống mà thề, người đã phạm điều ấy thật đđng chết!

。」

tā bì cháng huán yáng gāo sì bèi ; yīn wèi tā xíng zhè shì , méi yǒu lián xù de xīn 。」

Hắn phải thường bốn lần giá chiên conkhông có lòng thương xót.

:「 :『

ná dān duì dà wèi shuō :「 nǐ jiù shì nà rén ! yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō :『 wǒ gāo nǐ zuò yǐ sè liè de wáng , jiù nǐ tuō lí sǎo luó de shǒu 。

Bấy giờ, Na-than nói cùng Đa-vít rằng: Vua là người đó! Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Ta đã xức dầu lập ngươi làm vua Y-sơ-ra-ên, ta đã giải cứu ngươi khỏi tay Sau-lơ.

怀

wǒ jiāng nǐ zhǔ rén de jiā yè cì gěi nǐ , jiāng nǐ zhǔ rén de qī jiāo zài nǐ huái lǐ , yòu jiāng yǐ sè liè hé yóu dà jiā cì gěi nǐ ; nǐ ruò hái yǐ wéi bù zú , wǒ zǎo jiù jiā bèi dì cì gěi nǐ 。

Ta cũng ban cho ngươi nhà của chủ ngươi, trao vào tay ngươi các vợ của chủ ngươi, lập ngươi làm vua của nhà Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, và nếu điều đó không đủ, ắt ta sẽ thêm cho ơn khác nữa.

nǐ wèi shén me miǎo shì yē hé huá de mìng lìng , xíng tā yǎn zhōng kàn wèi è de shì ne ? nǐ jiè yà mén rén de dāo shā hài hè rén wū lì yà , yòu qǔ le tā de qī wèi qī 。

Cớ sau ngươi đã khinh bỉ lời của Đức Giê-hô-va, mà làm điều không đẹp lòng Ngài? Ngươi đã dùng gươm giết U-ri, người Hê-tít, lấy vợ nó làm vợ ngươi, còn nó thì ngươi đã giết bởi gươm của dân Am-môn.

。』

nǐ jì miǎo shì wǒ , qǔ le hè rén wū lì yà de qī wèi qī , suǒ yǐ dāo jiàn bì yǒng bù lí kāi nǐ de jiā 。』

Nên bây giờ, gươm chẳng hề thôi hủy hoại nhà ngươi, bởi vì ngươi đã khinh ta, cướp vợ U-ri, người Hê-tít, đặng nàng làm vợ ngươi.

:『

yē hé huá rú cǐ shuō :『 wǒ bì cóng nǐ jiā zhōng xīng qǐ huò huàn gōng jī nǐ ; wǒ bì zài nǐ yǎn qián bǎ nǐ de fēi pín cì gěi bié rén , tā zài rì guāng zhī xià jiù yǔ tā men tóng qǐn 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ khiến từ nhà ngươi nổi lên những tai họa giáng trên ngươi; ta sẽ bắt các vợ ngươi tại trước mắt ngươi trao cho một người lân cận ngươi, nó sẽ làm nhục chúng nó tại nơi bạch nhựt.

。』」

nǐ zài àn zhōng háng zhè shì , wǒ què yào zài yǐ sè liè zhòng rén miàn qián , rì guāng zhī xià , bào yìng nǐ 。』」

Vì ngươi đã làm sự kia cách kín nhiệm, nhưng ta sẽ làm việc nầy trước mặt cả Y-sơ-ra-ên và tại nơi bạch nhựt.

:「!」:「

dà wèi duì ná dān shuō :「 wǒ dé zuì yē hé huá le !」 ná dān shuō :「 yē hé huá yǐ jīng chú diào nǐ de zuì , nǐ bì bú zhì yú sǐ 。

Đa-vít bèn nói cùng Na-than rằng: Ta đã phạm tội cùng Đức Giê-hô-va. Na-than đáp cùng Đa-vít rằng: Đức Giê-hô-va cũng đã xóa tội vua; vua không chết đâu.

。」

zhǐ shì nǐ xíng zhè shì , jiào yē hé huá de chóu dí dà dé xiè dú de jī huì , gù cǐ , nǐ suǒ dé de hái zi bì dìng yào sǐ 。」

Nhưng vì việc nầy vua đã gây dịp cho những kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va nói phạm đến Ngài, nên con trai đã sanh cho ngươi hẳn sẽ chết.

使

ná dān jiù huí jiā qù le 。 dà wèi de ér zi yāo zhé yē hé huá jī dǎ wū lì yà qī gěi dà wèi suǒ shēng de hái zi , shǐ tā dé zhòng bìng 。

Đoạn, Na-than trở về nhà mình. Đức Giê-hô-va bèn đánh đứa trẻ mà vợ của U-ri đã sanh cho Đa-vít, và nó bị đau nặng lắm.

suǒ yǐ dà wèi wèi zhè hái zi kěn qiú shén , ér qiě jìn shí , jìn rù nèi shì , zhōng yè tǎng zài dì shàng 。

Đa-vít vì con cầu khẩn Đức Chúa Trời và kiêng ăn; đoạn, người trở vào nhà, trọn đêm nằm dưới đất.

tā jiā zhōng de lǎo chén lái dào tā páng biān , yào bǎ tā cóng dì shàng fú qǐ lái , tā què bù kěn qǐ lái , yě bù tóng tā men chī fàn 。

Các trưởng lão trong nhà chổi dậy đứng chung quanh người đặng đỡ người lên khỏi đất; nhưng người không khứng, và chẳng ăn với họ.

:「?」

dào dì qī rì , hái zi sǐ le 。 dà wèi de chén pú bù gǎn gào sù tā hái zi sǐ le , yīn tā men shuō :「 hái zi hái huó zhe de shí hòu , wǒ men quàn tā , tā shàng qiě bù kěn tīng wǒ men de huà , ruò gào sù tā hái zi sǐ le , qǐ bú gèng jiā yōu shāng ma ?」

Ngày thứ bảy đứa trẻ chết. Các tôi tớ của Đa-vít ngại cho người biết đứa trẻ đã chết; vì họ nói rằng: Lúc đứa trẻ còn sống, chúng tôi có khuyên giải vua, vua không khứng nghe chúng tôi; vậy làm sao chúng tôi lại dám nói cùng vua rằng đứa trẻ đã chết? Có lẽ vua rủi ro!

:「?」:「。」

dà wèi jiàn chén pú bǐ cǐ dī shēng shuō huà , jiù zhī dào hái zǐ sǐ le , wèn chén pú shuō :「 hái zi sǐ le ma ?」 tā men shuō :「 sǐ le 。」

Nhưng Đa-vít thấy những tôi tớ nó nhỏ nhỏ, hiểu rằng đứa trẻ đã chết, nên hỏi rằng: Có phải đứa trẻ đã chết chăng? Họ thưa: Phải, đã chết rồi.

殿便

dà wèi jiù cóng dì shàng qǐ lái , mù yù , mǒ gāo , huàn le yī shang , jìn yē hé huá de diàn jìng bài ; rán hòu huí gōng , fēn fù rén bǎi fàn , tā biàn chī le 。

Bấy giờ, Đa-vít chờ dậy khỏi đất, tắm mình, xức dầu thơm, và thay quần áo; rồi người đi vào đền của Đức Giê-hô-va và thờ lạy. Đoạn, người trở về cung, truyền dọn vật thực cho mình, và người ăn.

:「。」

chén pú wèn tā shuō :「 nǐ suǒ xíng de shì shén me yì sī ? hái zǐ huó zhe de shí hòu , nǐ jìn shí kū qì ; hái zi sǐ le , nǐ dǎo qǐ lái chī fàn 。」

Các tôi tớ hỏi người rằng: Vua làm chi vậy? Khi đứa trẻ nầy còn sống, vua kiêng ăn và khóc vì nó; và bấy giờ, nó đã chết vua chờ dậy và ăn!

:「使

dà wèi shuō :「 hái zi hái huó zhe , wǒ jìn shí kū qì ; yīn wèi wǒ xiǎng , huò zhě yē hé huá lián xù wǒ , shǐ hái zi bù sǐ yě wèi kě zhī 。

Vua đáp: Khi đứa trẻ còn sống, ta kiêng ăn và khóc lóc, vì ta nghĩ rằng: Nào ai biết; có lẽ Đức Giê-hô-va sẽ thương xót ta, và cho đứa trẻ được sống chăng.

使。」

hái zi sǐ le , wǒ hé bì jìn shí , wǒ qǐ néng shǐ tā fǎn huí ne ? wǒ bì wǎng tā nà lǐ qù , tā què bù néng huí wǒ zhè lǐ lái 。」

Nhưng bây giờ nó đã chết, ta kiêng ăn làm chi? Ta có thế làm cho nó trở lại ư? Ta sẽ đi đến nó nhưng nó không trở lại cùng ta.

dà wèi ān wèi tā de qī bá shì bā , yǔ tā tóng qǐn , tā jiù shēng le ér zi , gěi tā qǐ míng jiào suǒ luó mén 。 yē hé huá yě xǐ ài tā ,

Đa-vít an ủi Bát-sê-ba, vợ mình, đến ngủ cùng nàng; nàng sanh một đứa trai, đặt tên là Sa-lô-môn. Đức Giê-hô-va yêu mến Sa-lô-môn,

jiù jiè xiān zhī ná dān cì tā yí gè míng zì , jiào yē dǐ dǐ yà , yīn wèi yē hé huá ài tā 。

nên Ngài sai đấng tiên tri Na-than đến đặt tên cho nó là Giê-đi-đia, vì Đức Giê-hô-va yêu mến nó.

yuē yā gōng qǔ yà mén rén de jīng chéng lā bā 。

Giô-áp đánh Ráp-ba của dân Am-môn, và hãm lấy đế đô.

使:「

yuē yā dǎ fā shǐ zhě qù jiàn dà wèi , shuō :「 wǒ gōng dǎ lā bā , qǔ qí shuǐ chéng 。

Người sai sứ giả đến cùng Đa-vít mà nói rằng: Tôi có đánh Ráp-ba và hãm lấy thành ở mạn dưới rồi.

。」

xiàn zài nǐ yào jù jí qí yú de jūn bīng lái , ān yíng wéi gōng zhè chéng , kǒng pà wǒ qǔ le zhè chéng , rén jiù yǐ wǒ de míng jiào zhè chéng 。」

Bây giờ, vua hãy nhóm hiệp chiến sĩ còn lại, đến đóng trước thành và chiếm lấy nó, kẻo tôi hãm lấy nó thì công đó về tôi chăng.

yú shì dà wèi jù jí zhòng jūn , wǎng lā bā qù gōng chéng , jiù qǔ le zhè chéng ,

Vậy, vua Đa-vít nhóm hiệp cả dân sự, kéo đến đánh Ráp-ba, vây và hãm lấy nó.

duó le yà mén rén zhī wáng suǒ dài de jīn guān miǎn , qí shàng de jīn zǐ zhòng yì tā lián dé , yòu qiàn zhe bǎo shí 。 rén jiāng zhè guān miǎn dài zài dà wèi tóu shàng 。 dà wèi cóng chéng lǐ duó le xǔ duō cái wù ,

Người lột cái mão triều thiên của vua dân Am-môn đội trên đầu; mão đó cân nặng một ta-lâng vàng, có trang sức những bửu thạch; Đa-vít đặt nó ở trên đầu mình. Người cũng đoạt lấy rất nhiều của cải thành mà đem đi.

jiāng chéng lǐ de rén lā chū lái , fàng zài jù xià , huò tiě pá xià , huò tiě fǔ xià , huò jiào tā jīng guò zhuān yáo ; dà wèi dài yà mén gè chéng de jū mín dōu shì rú cǐ 。 qí hòu , dà wèi hé zhòng jūn dōu huí yē lù sā lěng qù le 。

Người điệu dân sự ở thành ấy ra, bắt chúng phải làm công dịch bằng cưa, bừa sắt, rìu sắt, và lò gạch; người cũng đãi hết thảy thành của dân Am-môn như vậy. Đoạn, Đa-vít và cả dân sự đều trở về Giê-ru-sa-lem.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.