中文圣经

GIÊ-RÊ-MI 31

đã biết 0/424

:「 。」

yē hé huá shuō :「 nà shí , wǒ bì zuò yǐ sè liè gè jiā de shén ; tā men bì zuò wǒ de zǐ mín 。」

Đức Giê-hô-va phán: Trong lúc đó, ta sẽ làm Đức Chúa Trời của hết thảy họ hàng Y-sơ-ra-ên; chúng nó sẽ làm dân ta.

使

yē hé huá rú cǐ shuō : tuō lí dāo jiàn de jiù shì yǐ sè liè rén 。 wǒ shǐ tā xiǎng ān xī de shí hòu , tā céng zài kuàng yě méng ēn 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Dân sót lại thoát khỏi gươm dao, tức là Y-sơ-ra-ên, đã được ơn trong đồng vắng, khi ta đi khiến chúng nó được yên nghỉ.

gǔ shí yē hé huá xiàng yǐ sè liè xiǎn xiàn , shuō : wǒ yǐ yǒng yuǎn de ài ài nǐ , yīn cǐ wǒ yǐ cí ài xī yǐn nǐ 。

Đức Giê-hô-va từ thuở xưa hiện ra cùng tôi và phán rằng: Phải, ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi; nên đã lấy sự nhân từ mà kéo ngươi đến.

yǐ sè liè de mín nǎ , wǒ yào zài jiàn lì nǐ , nǐ jiù bèi jiàn lì ; nǐ bì zài yǐ jī gǔ wèi měi , yǔ huān lè de rén yì tóng tiào wǔ ér chū ;

Ta sẽ dựng lại ngươi, thì ngươi sẽ được dựng, hỡi gái đồng trinh Y-sơ-ra-ên! Ngươi sẽ lại cầm trống cơm làm trang sức, đi làm một với những người nhảy múa vui vẻ.

yòu bì zài sā mǎ lì yà de shān shàng zāi zhòng pú táo yuán , zāi zhòng de rén yào xiǎng yòng suǒ jié de guǒ zǐ 。

Ngươi sẽ lại trồng vườn nho trên núi Sa-ma-ri, những kẻ trồng sẽ trồng và sẽ được hái trái.

rì zi bì dào , yǐ fǎ lián shān shàng shǒu wàng de rén bì hū jiào shuō : qǐ lái ba ! wǒ men kě yǐ shàng xī ān , dào yē hé huá — wǒ men de shén nà lǐ qù 。

Sẽ có ngày, những kẻ canh trên các núi Eùp-ra-im kêu rằng: Hãy chổi dậy, chúng ta hãy lên núi Si-ôn, đến cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta!

yē hé huá rú cǐ shuō : nǐ men dāng wèi yǎ gè huān yuè gē chàng , yīn wàn guó zhōng wéi shǒu de huān hū 。 dāng chuán yáng sòng zàn shuō : yē hé huá a , qiú nǐ zhěng jiù nǐ de bǎi xìng yǐ sè liè suǒ shèng xià de rén 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy trổi tiếng reo vui vì Gia-cốp; hãy hò hét lên vì dân làm đầu các nước. Khá rao truyền ngợi khen mà rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy cứu dân Ngài, là dân còn sót của Y-sơ-ra-ên.

wǒ bì jiāng tā men cóng běi fāng lǐng lái , cóng dì jí zhāo jù ; tóng zhe tā men lái de yǒu xiā zǐ 、 qué zǐ 、 yùn fù 、 chǎn fù ; tā men bì chéng wéi dà bāng huí dào zhè lǐ lái 。

Nầy, ta sẽ đem chúng nó về từ xứ phương bắc, nhóm lại từ các đầu cùng đất. Trong vòng chúng nó sẽ có kẻ đui, kẻ què, đàn bà có nghén, đàn bà đẻ, hiệp nên một hội lớn mà trở về đây.

使

tā men yào kū qì ér lái 。 wǒ yào zhào tā men kěn qiú de yǐn dǎo tā men , shǐ tā men zài hé shuǐ páng zǒu zhèng zhí de lù , zài qí shàng bú zhì bàn diē ; yīn wèi wǒ shì yǐ sè liè de fù , yǐ fǎ lián shì wǒ de zhǎng zǐ 。

Chúng nó khóc lóc mà đến, và ta sẽ dắt dẫn trong khi chúng nó nài xin ta; ta sẽ đưa chúng nó đi dọc bờ các sông, theo đường bằng thẳng, chẳng bị vấp ngã. Vì ta làm cha cho Y-sơ-ra-ên, còn Eùp-ra-im là con đầu lòng ta.

liè guó a , yào tīng yē hé huá de huà , chuán yáng zài yuǎn chù de hǎi dǎo shuō : gǎn sàn yǐ sè liè de bì zhāo jù tā , yòu kān shǒu tā , hǎo xiàng mù rén kān shǒu yáng qún 。

Hỡi các nước, hãy nghe lời Đức Giê-hô-va; hãy reo lời ấy ra trong các cù lao xa! Khá nói rằng: Đấng đã làm tan lạc Y-sơ-ra-ên sẽ thâu nhóm nó lại, sẽ giữ như kẻ chăn giữ bầy chiên mình.

yīn yē hé huá jiù shú le yǎ gè , jiù shú tā tuō lí bǐ tā gèng qiáng zhī rén de shǒu 。

Vì Đức Giê-hô-va đã chuộc Gia-cốp, cứu khỏi tay kẻ mạnh hơn.

tā men yào lái dào xī ān de gāo chù gē chàng , yòu liú guī yē hé huá shī ēn zhī dì , jiù shì yǒu wǔ gǔ 、 xīn jiǔ , hé yóu , bìng yáng gāo 、 niú dú zhī dì 。 tā men de xīn bì xiàng jiāo guàn de yuán zǐ ; tā men yě bú zài yǒu yì diǎn chóu fán 。

Họ sẽ đến và hát trên nơi cao của Si-ôn; sẽ trôi chảy đến ơn phước của Đức Giê-hô-va, đến lúa mì, rượu mới, dầu, và con nhỏ của chiên và bò; lòng họ sẽ như vườn đượm nhuần, chẳng buồn rầu chi nữa hết.

使使

nà shí , chǔ nǚ bì huān lè tiào wǔ ; nián shào de 、 nián lǎo de , yě bì yì tóng huān lè ; yīn wèi wǒ yào shǐ tā men de bēi āi biàn wèi huān xǐ , bìng yào ān wèi tā men , shǐ tā men de chóu fán zhuǎn wèi kuài lè 。

Bấy giờ gái đồng trinh sẽ vui mừng nhảy múa, các người trai trẻ và các ông già cũng sẽ vui chung; vì ta sẽ đổi sự sầu thảm chúng nó ra vui mừng, yên ủi chúng nó, khiến được hớn hở khỏi buồn rầu.

使

wǒ bì yǐ féi yóu shǐ jì sī de xīn mǎn zú ; wǒ de bǎi xìng yě yào yīn wǒ de ēn huì zhī zú 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Ta sẽ làm cho lòng các thầy tế lễ chán chê vì đồ ăn béo; dân ta sẽ no nê về ơn phước của ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.

yē hé huá rú cǐ shuō : zài lā mǎ tīng jiàn hào táo tòng kū de shēng yīn , shì lā jié kū tā ér nǚ , bù kěn shòu ān wèi , yīn wèi tā men dōu bú zài le 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tại Ra-ma nghe có tiếng than thở, khóc lóc đắng cay. Ra-chên khóc con cái mình, mà không chịu yên ủi về con cái mình, vì chúng nó không còn nữa!

yē hé huá rú cǐ shuō : nǐ jìn zhǐ shēng yīn bú yào āi kū , jìn zhǐ yǎn mù bú yào liú lèi , yīn nǐ suǒ zuò zhī gōng bì yǒu shǎng cì ; tā men bì cóng dí guó guī huí 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy nín tiếng ngươi, đừng than khóc, mắt ngươi đừng sa lụy, vì công việc của ngươi sẽ được thưởng; chúng nó sẽ trở về từ xứ kẻ thù, Đức Giê-hô-va phán vậy.

yē hé huá shuō : nǐ mò hòu bì yǒu zhǐ wàng ; nǐ de ér nǚ bì huí dào zì jǐ de jìng jiè 。

Đức Giê-hô-va phán: Sẽ có sự trông mong cho kỳ sau rốt của ngươi; con cái ngươi sẽ trở về bờ cõi mình.

便使便

wǒ tīng jiàn yǐ fǎ lián wèi zì jǐ bēi tàn shuō : nǐ zé fá wǒ , wǒ biàn shòu zé fá , xiàng bú guàn fù è de niú dú yí yàng 。 qiú nǐ shǐ wǒ huí zhuǎn , wǒ biàn huí zhuǎn , yīn wèi nǐ shì yē hé huá — wǒ de shén 。

Ta nghe Eùp-ra-im vì mình than thở rằng: Ngài đã sửa phạt tôi, tôi bị sửa phạt như con bò tơ chưa quen ách. Xin Chúa cho tôi trở lại, thì tôi sẽ được trở lại; vì Chúa là Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi!

wǒ huí zhuǎn yǐ hòu jiù zhēn zhèng ào huǐ ; shòu jiào yǐ hòu jiù pāi tuǐ tàn xī ; wǒ yīn dān dāng yòu nián de líng rǔ jiù bào kuì méng xiū 。

Thật, sau khi tôi bị trở lại, tôi đã ăn năn; sau khi tôi được dạy dỗ, tôi đã vỗ đùi. Tôi nhuốc nhơ hổ thẹn, vì đã mang sự sỉ nhục của tuổi trẻ.

yē hé huá shuō : yǐ fǎ lián shì wǒ de ài zǐ ma ? shì kě xǐ yuè de hái zi ma ? wǒ měi féng zé bèi tā , réng shēn gù niàn tā ; suǒ yǐ wǒ de xīn cháng liàn mù tā ; wǒ bì yào lián mǐn tā 。

Vậy thì Eùp-ra-im há là con rất thiết của ta, là con mà ta ưa thích sao? Mỗi khi ta nói nghịch cùng nó, ta còn nhớ đến nó lắm. Cho nên ta đã động lòng vì nó; phải, ta sẽ thương xót nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.

yǐ sè liè mín nǎ , nǐ dāng wèi zì jǐ shè lì zhǐ lù bēi , shù qǐ yǐn lù zhù 。 nǐ yào liú xīn xiàng dà lù , jiù shì nǐ suǒ qù de yuán lù ; nǐ dāng huí zhuǎn , huí zhuǎn dào nǐ zhè xiē chéng yì 。

Hãy dựng nêu, đặt trụ chỉ lối; hãy để lòng về đường cái, nơi đường ngươi đã noi theo. Hỡi gái đồng trinh Y-sơ-ra-ên, hãy trở về các thành nầy thuộc về ngươi!

bèi dào de mín nǎ , nǐ fǎn lái fù qù yào dào jǐ shí ne ? yē hé huá zài dì shàng zào le yí jiàn xīn shì , jiù shì nǚ zǐ hù wèi nán zǐ 。

Hỡi gái bội nghịch, ngươi sẽ đi dông dài cho đến chừng nào? Vì Đức Giê-hô-va đã dựng nên một sự mới trên đất: ấy là người nữ sẽ bao bọc người nam.

:「使

wàn jūn zhī yē hé huá — yǐ sè liè de shén rú cǐ shuō :「 wǒ shǐ bèi lǔ zhī rén guī huí de shí hòu , tā men zài yóu dà dì hé qí zhōng de chéng yì bì zài zhè yàng shuō : gōng yì de jū suǒ a , shèng shān nǎ , yuàn yē hé huá cì fú gěi nǐ 。

Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Khi ta đã đem những phu tù trở về, thì trong đất Giu-đa và các thành nó, người ta sẽ còn nói lời nầy: Hỡi chỗ ở của sự công bình, núi của sự thánh khiết kia, nguyền xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi!

yóu dà hé shǔ yóu dài chéng yì de rén , nóng fū hé fàng yáng de rén , yào yì tóng zhù zài qí zhōng 。

Giu-đa cùng mọi thành nó, những người làm ruộng và những kẻ dẫn bầy sẽ ở chung tại đó.

使使。」

pí fá de rén , wǒ shǐ tā bǎo yù ; chóu fán de rén , wǒ shǐ tā zhī zú 。」

Vì ta đã làm cho lòng mệt mỏi được no nê, và mỗi lòng buồn rầu lại được đầy dẫy.

:「!」

xiān zhī shuō :「 wǒ xǐng le , jué zhe shuì dé xiāng tián !」

Bấy giờ tôi thức dậy, thấy giấc ngủ tôi ngon lắm.

:「

yē hé huá shuō :「 rì zi jiāng dào , wǒ yào bǎ rén de zhǒng hé shēng chù de zhǒng bō zhǒng zài yǐ sè liè jiā hé yóu dà jiā 。

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lấy giống người và giống thú vật mà gieo nơi nhà Y-sơ-ra-ên và nhà Giu-đa.

wǒ xiān qián zěn yàng liú yì jiāng tā men bá chū 、 chāi huǐ 、 huǐ huài 、 qīng fù 、 kǔ hài , yě bì zhào yàng liú yì jiāng tā men jiàn lì 、 zāi zhí 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Như ta đã canh giữ chúng nó đặng nhổ, phá, đổ, diệt và làm khốn khổ thể nào, thì ta cũng sẽ canh giữ để dựng và trồng thể ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy.

dāng nà xiē rì zǐ , rén bú zài shuō : fù qīn chī le suān pú táo , ér zi de yá suān dǎo le 。

Trong những ngày đó, người ta sẽ không còn nói: Oâng cha ăn trái nho chua mà con cháu phải ghê răng.

。」

dàn gè rén bì yīn zì jǐ de zuì sǐ wáng ; fán chī suān pú táo de , zì jǐ de yá bì suān dǎo 。」

Nhưng mỗi người sẽ chết vì sự gian ác mình; hễ ai ăn trái nho chua, thì nấy phải ghê răng vậy.

:「

yē hé huá shuō :「 rì zi jiāng dào , wǒ yào yǔ yǐ sè liè jiā hé yóu dà jiā lìng lì xīn yuē ,

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, bấy giờ ta sẽ lập một giao ước mới với nhà Y-sơ-ra-ên và với nhà Giu-đa.

。」

bú xiàng wǒ lā zhe tā men zǔ zōng de shǒu , lǐng tā men chū āi jí dì de shí hòu , yǔ tā men suǒ lì de yuē 。 wǒ suī zuò tā men de zhàng fu , tā men què bèi le wǒ de yuē 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。」

Giao ước nầy sẽ không theo giao ước mà ta đã kết với tổ phụ chúng nó trong ngày ta nắm tay dắt ra khỏi đất Ê-díp-tô, tức giao ước mà chúng nó đã phá đi, dầu rằng ta làm chồng chúng nó, Đức Giê-hô-va phán vậy.

:「

yē hé huá shuō :「 nà xiē rì zi yǐ hòu , wǒ yǔ yǐ sè liè jiā suǒ lì de yuē nǎi shì zhè yàng : wǒ yào jiāng wǒ de lǜ fǎ fàng zài tā men lǐ miàn , xiě zài tā men xīn shàng 。 wǒ yào zuò tā men de shén , tā men yào zuò wǒ de zǐ mín 。

Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta.

:『』,。」

tā men gè rén bú zài jiào dǎo zì jǐ de lín shè hé zì jǐ de dì xiong shuō :『 nǐ gāi rèn shi yē hé huá 』, yīn wèi tā men cóng zuì xiǎo de dào zhì dà de dōu bì rèn shi wǒ 。 wǒ yào shè miǎn tā men de zuì niè , bú zài jì niàn tā men de zuì è 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。」

Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.

使使使

nà shǐ tài yáng bái rì fā guāng , shǐ xīng yuè yǒu dìng lì , hēi yè fā liàng , yòu jiǎo dòng dà hǎi , shǐ hǎi zhōng bō làng pēng hōng de , wàn jūn zhī yē hé huá shì tā de míng 。 tā rú cǐ shuō :

Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban mặt trời làm sự sáng ban ngày, ban thứ tự mặt trăng và ngôi sao soi ban đêm, lật biển lên, đến nỗi sóng nó gầm thét, Đức Giê-hô-va vạn quân là danh của Ngài phán rằng:

zhè xiē dìng lì ruò néng zài wǒ miàn qián fèi diào , yǐ sè liè de hòu yì yě jiù zài wǒ miàn qián duàn jué , yǒng yuǎn bú zài chéng guó 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Nếu lệ luật đó mất đi khỏi trước mặt ta, thì bấy giờ dòng giống Y-sơ-ra-ên cũng sẽ thôi không làm một nước trước mặt ta đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy.

yē hé huá rú cǐ shuō : ruò néng liàng dù shàng tiān , xún chá xià dì de gēn jī , wǒ jiù yīn yǐ sè liè hòu yì yí qiè suǒ xíng de qì jué tā men 。 zhè shì yē hé huá shuō de 。

Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu trên có thể đo được trời, dưới có thể dò được nền đất; thì cũng vậy, ta sẽ bỏ trọn cả dòng giống Y-sơ-ra-ên vì cớ mọi đều chúng nó đã làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.

:「

yē hé huá shuō :「 rì zǐ jiāng dào , zhè chéng bì wèi yē hé huá jiàn zào , cóng hā nán yè lóu zhí dào jiǎo mén 。

Đức Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày đến, khi thành sẽ được xây lại cho Đức Giê-hô-va, từ tháp Ha-na-nê-ên cho đến cửa góc.

zhǔn shéng yào wǎng wài liáng chū , zhí dào jiā lì shān , yòu zhuǎn dào gē yà 。

Dây đo sẽ giăng thẳng qua trên đồi Ga-rép, và vòng quanh đến đất Gô-a.

。」

pāo shī de quán gǔ hé dǎo huī zhī chù , bìng yí qiè tián dì , zhí dào jí lún xī , yòu zhí dào dōng fāng mǎ mén de guǎi jiǎo , dōu yào guī yē hé huá wèi shèng , bú zài bá chū , bú zài qīng fù , zhí dào yǒng yuǎn 。」

Cả nơi trũng của thây chết và tro, hết thảy đồng ruộng cho đến khe Xết-rôn và đến góc cửa ngựa về phía đông, đều sẽ được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, và đời đời sẽ không bị nhổ đi và đổ xuống nữa.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.