中文圣经

NÊ-HÊ-MI 2

đã biết 0/234

西

yà dá xuē xī wáng èr shí nián ní sàn yuè , zài wáng miàn qián bǎi jiǔ , wǒ ná qǐ jiǔ lái fèng gěi wáng 。 wǒ sù lái zài wáng miàn qián méi yǒu chóu róng 。

Đang năm thứ hai mươi đời vua Aït-ta-xét-xe, tháng Ni-san, rượu sẵn ở trước mặt người, tôi lấy rượu dâng cho vua; trước tôi không hề có bộ buồn rầu tại trước mặt người.

:「。」

wáng duì wǒ shuō :「 nǐ jì méi yǒu bìng , wèi shén me miàn dài chóu róng ne ? zhè bú shì bié de , bì shì nǐ xīn zhōng chóu fán 。」 yú shì wǒ shèn jù pà 。

Vua nói với tôi rằng: Nhân sao ngươi mặt mày buồn, dầu mà ngươi không có bịnh? Điều đó chỉ là sự buồn rầu trong lòng mà thôi. Bấy giờ tôi lấy làm sợ hãi lắm,

:「?」

wǒ duì wáng shuō :「 yuàn wáng wàn suì ! wǒ liè zǔ fén mù suǒ zài de nà chéng huāng liáng , chéng mén bèi huǒ fén shāo , wǒ qǐ néng miàn wú chóu róng ma ?」

bèn nói với vua rằng: Nguyện vua vạn tuế! Lẽ nào mặt tôi không buồn, khi cái thành, là nơi có mồ mả của tổ phụ tôi, bị phá hoang, và các cửa thành bị lửa thiêu đốt?

:「?」

wáng wèn wǒ shuō :「 nǐ yāo qiú shén me ?」 yú shì wǒ mò dǎo tiān shàng de shén 。

Vua hỏi tôi rằng: Ngươi cầu xin cái gì? Tôi bèn cầu nguyện cùng Đức Chúa của các từng trời,

:「。」

wǒ duì wáng shuō :「 pú rén ruò zài wáng yǎn qián méng ēn , wáng ruò xǐ huan , qiú wáng chāi qiǎn wǒ wǎng yóu dà , dào wǒ liè zǔ fén mù suǒ zài de nà chéng qù , wǒ hǎo chóng xīn jiàn zào 。」

rồi tâu với vua rằng: Nếu vua thấy điều đó là tốt lành, nếu kẻ tôi tớ vua được ơn trước mặt vua, xin vua hãy sai tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi, để tôi xây cất thành ấy lại.

:「?」

nà shí wáng hòu zuò zài wáng de páng biān 。 wáng wèn wǒ shuō :「 nǐ qù yào duō shǎo rì zi ? jǐ shí huí lái ?」 wǒ jiù dìng le rì qī 。 yú shì wáng xǐ huan chāi qiǎn wǒ qù 。

Đang khi ấy hoàng hậu cũng ngồi bên cạnh vua. Vua bèn hỏi tôi rằng: Ngươi đi đường lâu chừng bao nhiêu, và khi nào ngươi trở về? Vậy, vua đẹp lòng sai tôi đi, và tôi định nhựt kỳ cho người.

:「西

wǒ yòu duì wáng shuō :「 wáng ruò xǐ huan , qiú wáng cì wǒ zhào shū , tōng zhī dà hé xī de shěng zhǎng zhǔn wǒ jīng guò , zhí dào yóu dà ;

Tôi cũng thưa với vua rằng: Nếu điều này được đẹp lòng vua, xin vua hãy trao cho tôi những bức thơ truyền các qua tổng trấn bên kia sông cho phép tôi đi ngang qua cho đến khi tôi tới Giu-đa

使殿使。」

yòu cì zhào shū , tōng zhī guǎn lǐ wáng yuán lín de yà sà , shǐ tā gěi wǒ mù liào , zuò shǔ diàn yíng lóu zhī mén de héng liáng hé chéng qiáng , yǔ wǒ zì jǐ fáng wū shǐ yòng de 。」 wáng jiù yǔn zhǔn wǒ , yīn wǒ shén shī ēn de shǒu bāng zhù wǒ 。

lại ban chiếu chỉ cho A-sáp, kẻ giữ rừng vua, truyền người cho tôi gỗ làm khuôn cửa của thành điện giáp với đền và làm vách thành, cùng nhà mà tôi phải vào ở. Vua bèn ban cho tôi các điều đó, tùy theo tay nhân lành của Đức Chúa Trời tôi giúp đỡ tôi.

西

wáng pài le jūn zhǎng hé mǎ bīng hù sòng wǒ 。 wǒ dào le hé xī de shěng zhǎng nà lǐ , jiāng wáng de zhào shū jiāo gěi tā men 。

Vậy, tôi đến cùng các quan tổng trấn bên kia sông, vào trao cho họ những bức thơ của vua. Vả, vua có sai những quan tướng và quân kỵ đi với tôi.

hé lún rén shēn bā lā , bìng wèi nú de yà mén rén duō bǐ yǎ , tīng jiàn yǒu rén lái wèi yǐ sè liè rén qiú hǎo chù , jiù shèn nǎo nù 。

Khi San-ba-lát, người Hô-rôn, và Tô-bi-gia, là kẻ tôi tớ Am-môn, hay điều đó, thì lấy làm bất bình vì có người đến đặng tìm kiếm sự hưng thạnh của dân Y-sơ-ra-ên.

wǒ dào le yē lù sā lěng , zài nà lǐ zhù le sān rì 。

Vậy, tôi đến Giê-ru-sa-lem và ở tại đó ba ngày.

使

wǒ yè jiān qǐ lái , yǒu jǐ gè rén yě yì tóng qǐ lái ; dàn shén shǐ wǒ xīn lǐ yào wèi yē lù sā lěng zuò shén me shì , wǒ bìng méi yǒu gào sù rén 。 chú le wǒ qí de shēng kǒu yǐ wài , yě méi yǒu bié de shēng kǒu zài wǒ nà lǐ 。

Tôi và mấy người cùng theo tôi, bèn chổi dậy ban đêm; tôi chẳng cho ai hay biết sự gì Đức Chúa Trời đã khiến lòng tôi toan làm vì Giê-ru-sa-lem; lại ngoài con thú tôi cỡi thì chẳng có con thú nào khác ở với tôi.

dāng yè wǒ chū le gǔ mén , wǎng yě gǒu jǐng qù , dào le fèn chǎng mén , chá kàn yē lù sā lěng de chéng qiáng , jiàn chéng qiáng chāi huǐ , chéng mén bèi huǒ fén shāo 。

Ban đêm tôi ra nơi cửa Trũng, đối ngang suối chó rừng, và đến cửa phân, xem xét các vách thành của Giê-ru-sa-lem bị hư nát, và các cửa nó bị lửa thiêu đốt.

wǒ yòu wǎng qián , dào le quán mén hé wáng chí , dàn suǒ qí de shēng kǒu méi yǒu dì fāng guò qù 。

Đoạn, tôi đi qua cửa Giếng, và đến nơi ao của vua; song không có nơi nào đặng cho con thú tôi cỡi đi ngang qua được.

沿

yú shì yè jiān yán xī ér shàng , chá kàn chéng qiáng , yòu zhuǎn shēn jìn rù gǔ mén , jiù huí lái le 。

Kế đó, ban đêm tôi bắt đường khe đi lên, xem xét vách thành; rồi tôi thối lại, vào nơi cửa Trũng mà trở về.

wǒ wǎng nǎ lǐ qù , wǒ zuò shén me shì , guān zhǎng dōu bù zhī dào 。 wǒ hái méi yǒu gào sù yóu dà píng mín 、 jì sī 、 guì zhòu 、 guān zhǎng , hé qí yú zuò gōng de rén 。

Vả, các quan trưởng không hiểu tôi đi đâu, nào rõ tôi làm gì; và đến chừng ấy, tôi chưa tỏ ra cho người Giu-đa, hoặc cho những thầy tế lễ, hoặc cho kẻ quyền quí, hoặc cho quan trưởng, hay là cho các người khác lo làm công việc, được biết gì đến.

:「!」

yǐ hòu , wǒ duì tā men shuō :「 wǒ men suǒ zāo de nán , yē lù sā lěng zěn yàng huāng liáng , chéng mén bèi huǒ fén shāo , nǐ men dōu kàn jiàn le 。 lái ba , wǒ men chóng jiàn yē lù sā lěng de chéng qiáng , miǎn de zài shòu líng rǔ !」

Tôi bèn nói với chúng rằng: Các ngươi hãy xem tình cảnh khổ nạn của chúng ta đang đây; Giê-ru-sa-lem bị phá hoang, và các cửa nó bị lửa thiêu đốt. Hãy đến, xây cất các vách thành Giê-ru-sa-lem lại, hầu cho chúng ta chẳng còn bị sỉ nhục nữa.

:「!」

wǒ gào sù tā men wǒ shén shī ēn de shǒu zěn yàng bāng zhù wǒ , bìng wáng duì wǒ suǒ shuō de huà 。 tā men jiù shuō :「 wǒ men qǐ lái jiàn zào ba !」 yú shì tā men fèn yǒng zuò zhè shàn gōng 。

Tôi cũng thuật cho chúng làm sao tay nhân từ của Đức Chúa Trời tôi đã giúp đỡ tôi, và các lời vua đã nói cùng tôi. Chúng nói: Hè, ta hãy chổi dậy và xây sửa lại! Vậy, chúng được vững chắc trong ý nhất định làm công việc tốt lành này.

:「?」

dàn hé lún rén shēn bā lā , bìng wèi nú de yà mén rén duō bǐ yǎ hé ā lā bó rén jī shàn tīng jiàn jiù chī xiào wǒ men , miǎo shì wǒ men , shuō :「 nǐ men zuò shén me ne ? yào bèi pàn wáng ma ?」

San-ba-lát, người Hô-rôn, Tô-bi-gia, kẻ tôi tớ Am-môn, và Ghê-sem, người A rạp, được hay việc đó, bèn nhạo báng và khinh bỉ chúng tôi. Chúng nó nói rằng: Các ngươi làm chi đó? Các ngươi có ý phản nghịch vua sao?

:「 使。」

wǒ huí dá tā men shuō :「 tiān shàng de shén bì shǐ wǒ men hēng tōng 。 wǒ men zuò tā pú rén de , yào qǐ lái jiàn zào ; nǐ men què zài yē lù sā lěng wú fēn 、 wú quán 、 wú jì niàn 。」

Tôi bèn đáp với chúng nó rằng: Đức Chúa của các từng trời sẽ ban cho chúng ta sự hanh thông; vì vậy, chúng ta, là tôi tớ Ngài, sẽ chổi dậy và xây sửa lại; nhưng các ngươi không có phần, hoặc phép, hoặc kỷ niệm trong Giê-ru-sa-lem.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.