中文圣经

NÊ-HÊ-MI 12

đã biết 0/318

西

tóng zhe sā lā tiě de ér zi suǒ luó bā bó hé yē shū yà huí lái de jì sī yǔ lì wèi rén jì zài xià miàn : jì sī shì xī lái yǎ 、 yē lì mǐ 、 yǐ sī lā 、

Đây là những thầy tế lễ và người Lê-vi, theo Xô-rô-ba-bên, con trai của Sa-la-thi-ên, và Giê-sua, mà đi lên: Sê-ra-gia, Giê-rê-mi, E-sơ-ra,

鹿

yà mǎ lì yǎ 、 mǎ lù 、 hā tū 、

A-ma-ria, Ma-lúc, Ha-túc,

shì jiā ní 、 lì hóng 、 mǐ lì mò 、

Sê-ca-nia, Rê-hum, Mê-rê-mốt,

yì duō 、 jìn dùn 、 yà bǐ yǎ 、

Y-đô, Ghi-nê-thôi, A-bi-gia,

mǐ yǎ mín 、 mǎ dǐ yǎ 、 bì jiā 、

Mi-gia-min, Ma-a-đia, Binh-ga,

shì mǎ yǎ 、 yuē yǎ lì 、 yē dà yǎ 、

Sê-ma-gia, Giô-gia-ríp, Giê-đa-gia,

sā lù 、 yà mù 、 xī lè jiā 、 yē dà yǎ 。 zhè xiē rén zài yē shū yà de shí hòu zuò jì sī hé tā men dì xiong de shǒu lǐng 。

Sa-lu, A-móc, Hinh-kia, và Giê-đa-gia. Đó là quan trưởng của những thầy tế lễ và anh em của họ trong đời Giê-sua.

lì wèi rén shì yē shū yà 、 bīn nèi 、 jiǎ miè 、 shì lì bǐ 、 yóu dà 、 mǎ tā ní 。 zhè mǎ tā ní hé tā de dì xiong guǎn lǐ chēng xiè de shì 。

Những người Lê-vi là: Giê-sua, Bin-nui, Cát-mê-ên, Sê-rê-bia, Giu-đa, và Mát-tai-nia, là người với anh em mình coi sóc việc hát khen ngợi.

tā men de dì xiong bā bù jiā hé wū ní zhào zì jǐ de bān cì yǔ tā men xiāng duì 。

Lại có Bác-bu-kia, U-ni, cùng các anh em mình; họ thay đổi phiên nhau trong công việc mình.

yē shū yà shēng yuē yǎ jīn ; yuē yǎ jīn shēng yǐ lì yà shí ; yǐ lì yà shí shēng yē hé yē dà ;

Giê-sua sanh Giô-gia-kim; Giô-gia-kim sanh Ê-li-a-síp; Ê-li-a-síp sanh Giô-gia-đa;

yē hé yē dà shēng yuē ná dān ; yuē ná dān shēng yā dù yà 。

Giô-gia-đa sanh Giô-na-than, Giô-na-than sanh Gia-đua.

西

zài yuē yǎ jīn de shí hòu , jì sī zuò zú zhǎng de xī lái yǎ zú yǒu mǐ lā yǎ ; yē lì mǐ zú yǒu hā ná ní yǎ ;

Nầy là trưởng tộc của những thầy tế lễ, trong đời Giô-gia-kim: về họ Sê-ra-gia, Mê-ra-gia; về họ Giê-rê-mi, Ha-na-nia;

yǐ sī lā zú yǒu mǐ shū lán ; yà mǎ lì yǎ zú yǒu yuē hā nán ;

về họ E-xơ-ra, Mê-su-lam; về họ A-ma-ria, Giô-ha-nan;

mǐ lì gǔ zú yǒu yuē ná dān ; shì bā ní zú yǒu yuē sè ;

về họ Mê-lu-ki, Giô-na-than;

hā lín zú yǒu yā ná ; mǐ lā yuē zú yǒu xī lè kǎi ;

về họ Sê-ba-nia, Giô-sép; về họ Ha-rim, Aùt-na; về họ Mê-ra-giốt; Hên-cai;

yì duō zú yǒu sā jiā lì yà ; jìn dùn zú yǒu mǐ shū lán ;

ve họ Y-đô, Xa-cha-ri; về họ Ghi-nê-thôn, mê-su-lam;

yà bǐ yǎ zú yǒu xì jī lì ; mǐ ná mín zú mǒu ; mó yà dǐ zú yǒu pí lè tài ;

về họ A-bi-gia, Xiếc-ri; về họ Min-gia-min và Mô-đa-đia, Phinh-tai;

bì jiā zú yǒu shā mǔ yà ; shì mǎ yǎ zú yǒu yuē ná dān ;

về họ Binh-ga, Sa-mua; về họ Sê-ma-gia, Giô-na-than;

西

yuē yǎ lì zú yǒu mǎ tè nǎi ; yē dà yǎ zú yǒu wū xī ;

về họ Giô-gia-ríp, Mát-tê-nai; về họ Giê-đa-gia, U-xi;

sā lái zú yǒu jiā lái ; yà mù zú yǒu xī bó ;

về họ Sa-lai, Ca-lai; về họ A-móc, Ê-be;

xī lè jiā zú yǒu hā shā bǐ yǎ ; yē dà yǎ zú yǒu ná tǎn yè 。

về họ Hinh-kia Ha-sa-bia; về họ Giê-đa-gia, Nê-tha-nê-ên.

zhì yú lì wèi rén , dāng yǐ lì yà shí 、 yē hé yē dà 、 yuē hā nán 、 yā dù yà de shí hòu , tā men de zú zhǎng jì zài cè shàng 。 bō sī wáng dà liú shì zài wèi de shí hòu , zuò zú zhǎng de jì sī yě jì zài cè shàng 。

Về người Lê-vi, các trưởng tộc của họ đã biên tên vào sổ trong đời của Ê-li-a-síp, Giô-gia-đa, Giô-ha-nan, và Gia-đua; còn những thầy tế lễ, thì biên tên vào sổ trong đời Đa-ri-út, nước Phe-rơ-sơ.

lì wèi rén zuò zú zhǎng de jì zài lì shǐ shàng , zhí dào yǐ lì yà shí de ér zi yuē hā nán de shí hòu 。

Các trưởng tộc của người Lê-vi có ghi tên vào sách sử ký cho đến đời Giô-ha-nan, con trai của Ê-li-a-síp.

lì wèi rén de zú cháng shì hā shā bǐ yǎ 、 shì lì bǐ 、 jiǎ miè de ér zi yē shū yà , yǔ tā men dì xiong de bān cì xiāng duì , zhào zhe shén rén dà wèi de mìng lìng yì bān yi bān dì zàn měi chēng xiè 。

Các trưởng tộc của người Lê-vi: Ha-sa-bia, Sê-rê-bia, và Giê-sua, con trai của Cát-mi-ên, và các anh em người ứng đối nhau, từng ban từng thứ, đặng ngợi khen và cảm tạ, tùy theo lịnh của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời.

mǎ tā ní 、 bā bù jiā 、 é bā dǐ yà 、 mǐ shū lán 、 dá men 、 yà gǔ shì shǒu mén de , jiù shì zài kù fáng nà lǐ shǒu mén 。

Mát-ta-nia, Bác-bu-kia, Ô-ba-đia, Mê-su-lam, Tanh-môn và A-cúp, là kẻ canh giữ cửa, giữ các kho bên cửa thành.

zhè dōu shì zài yuē sā dá de sūn zi 、 yē shū yà de ér zi yuē yǎ jīn hé shěng zhǎng ní xī mǐ , bìng jì sī wén shì yǐ sī lā de shí hòu , yǒu zhí rèn de 。

Các người này ở về đời Giô-gia-kim, con trai của Giê-sua, cháu Giô-xa-đác, về đời Nê-hê-mi, quan tổng trấn, và về đời E-xơ-ra, làm thầy tế lễ và văn sĩ.

yē lù sā lěng chéng qiáng gào chéng de shí hòu , zhòng mín jiù bǎ gè chù de lì wèi rén zhāo dào yē lù sā lěng , yào chēng xiè 、 gē chàng 、 qiāo bó 、 gǔ sè 、 tán qín , huān huān xǐ xǐ dì xíng gào chéng zhī lǐ 。

Khi khánh thành các vách thành Giê-ru-sa-lem, thì người ta sai gọi các người Lê-vi ở khắp mọi nơi, đặng đem chúng về Giê-ru-sa-lem, để dự lễ khánh thành cách vui vẻ, có tiếng khen ngợi và ca hát theo chập chỏa, đàn cầm, và đàn sắt.

·

gē chàng de rén cóng yē lù sā lěng de zhōu wéi hé ní tuó fǎ de cūn zhuāng yǔ bó · jí jiǎ , yòu cóng jiā bā hé yā mǎ fú de tián dì jù jí , yīn wèi gē chàng de rén zài yē lù sā lěng sì wéi wèi zì jǐ lì le cūn zhuāng 。

Các người ca hát đều hiệp lại, từ đồng bằng xung quanh Giê-ru-sa-lem, các làng người Nê-tô-pha-tít;

lại từ Bết-ghinh-ganh, từ đồng bằng Ghê-ba và Aùch-ma-vết; vì những người ca hát đã xây cho mình các làng ở chung quanh thành Giê-ru-sa-lem.

jì sī hé lì wèi rén jiù jié jìng zì jǐ , yě jié jìng bǎi xìng hé chéng mén , bìng chéng qiáng 。

Những thầy tế lễ và người Lê-vi dọn mình cho thánh sạch, cũng dọn cho thánh sạch dân sự, các cửa và vách thành.

使

wǒ dài yóu dà de shǒu lǐng shàng chéng , shǐ chēng xiè de rén fēn wèi liǎng dà duì , pái liè ér xíng : dì yī duì zài chéng shàng wǎng yòu biān xiàng fèn chǎng mén xíng zǒu ,

Bấy giờ, tôi biểu các quan trưởng Giu-đa lên trên vách thành, rồi phân làm hai tốp lớn kéo nhau đi để cảm tạ; một tốp đi về phía hữu trên vách thành, tới cửa Phân.

zài tā men hòu tou de yǒu hé shā yǎ yǔ yóu dà shǒu lǐng de yí bàn ,

Sau chúng có Hô-sa-gia, và phân nửa số các quan trưởng Giu-đa,

yòu yǒu yà sā lì yǎ 、 yǐ sī lā 、 mǐ shū lán 、

cùng A-xa-ria, E-xơ-ra, Mê-su-lam, Giu-đa, Bên-gia-min,

便

yóu dà 、 biàn yǎ mǐn 、 shì mǎ yǎ 、 yē lì mǐ 。

Sê-ma-gia, Giê-rê-mi,

hái yǒu xiē chuī hào zhī jì sī de zǐ sūn , yuē ná dān de ér zi sā jiā lì yà 。 yuē ná dān shì shì mǎ yǎ de ér zi ; shì mǎ yǎ shì mǎ tā ní de ér zi ; mǎ tā ní shì mǐ gāi yà de ér zi ; mǐ gāi yà shì sā kè de ér zi ; sā kè shì yà sà de ér zi ;

và mấy con trai của những thầy tế lễ cầm kèn: Xa-cha-ri, con trai của Giô-na-than, cháu của Sê-ma-gia, chắt của Mát-ta-nia, chít của Mi-chê; Mi-chê là con trai của Xác-cua, cháu của A-sáp,

yòu yǒu sā jiā lì yà de dì xiong shì mǎ yǎ 、 yà sā lì 、 mǐ lā lái 、 jī lā lái 、 mǎ ài 、 ná tǎn yè 、 yóu dà 、 hā ná ní , dōu ná zhe shén rén dà wèi de yuè qì , wén shì yǐ sī lā yǐn lǐng tā men 。

cùng các anh em người, là Sê-ma-gia, A-xa-rên, Mi-la-lai, Ghi-la-lai, Ma-ai, Nê-tha-nê-ên, Giu-đa, và Ha-na-ni, cầm những nhạc khí của Đa-vít, người của Đức Chúa Trời; và E-xơ-ra, người văn sĩ, đi ở đằng trước chúng.

殿

tā men jīng guò quán mén wǎng qián , cóng dà wèi chéng de tái jiē suí dì shì ér shàng , zài dà wèi gōng diàn yǐ shàng , zhí xíng dào cháo dōng de shuǐ mén 。

Từ cửa Suối, ở ngay mặt, chúng đi thẳng lên các nấc thành Đa-vít, tại nơi đốc vách thành ở trên đền Đa-vít, và đến cửa Nước về phía đông.

dì èr duì chēng xiè de rén yào yǔ nà yí duì xiāng yíng ér xíng 。 wǒ hé mín de yí bàn gēn suí tā men , zài chéng qiáng shàng guò le lú lóu , zhí dào kuān qiáng ;

Còn tốp cảm tạ thứ nhì đi trên vách thành đối ngang lại với tốp thứ nhất, còn tôi đi ở sau họ với phân nửa dân sự, từ tháp các Lò cho đến vách rộng,

yòu guò le yǐ fǎ lián mén 、 gǔ mén 、 yú mén 、 hā nán yè lóu 、 hā mǐ yà lóu , zhí dào yáng mén , jiù zài hù wèi mén zhàn zhù 。

đi qua trên cửa Eùp-ra-im, gần bên cửa Cũ, cửa Cá, tháp Ha-na-nê-ên, và tháp Mê-a, đến cửa Chiên. Chúng dừng lại tại cửa Ngục.

殿

yú shì , zhè liǎng duì chēng xiè de rén lián wǒ hé guān zhǎng de yí bàn , zhàn zài shén de diàn lǐ 。

Đoạn, hai tốp cảm tạ dừng lại trong đền Đức Chúa Trời, tôi và phân nửa quan trưởng theo tôi cũng làm vậy,

西

hái yǒu jì sī yǐ lì yà jīn 、 mǎ xī yǎ 、 mǐ ná mín 、 mǐ gāi yǎ 、 yǐ lì yuē nǎi 、 sā jiā lì yà 、 hā nán ní yà chuī hào ;

và những thầy tế lễ cầm kèn, là Ê-li-a-kim, Ma-a-sê-gia, Min-gia-min, Mi-chê, Ê-li-ô-ê-nai, Xa-cha-ri, và Ha-na-nia;

西西

yòu yǒu mǎ xī yǎ 、 shì mǎ yǎ 、 yǐ lì yà sā 、 wū xī 、 yuē hā nán 、 mǎ jī yǎ 、 yǐ lán , hé yǐ xiè zòu yuè 。 gē chàng de jiù dà shēng gē chàng , yī sī lā xī yǎ guǎn lǐ tā men 。

lại có Ma-a-sê-gia, Sê-ma-gia, Ê-lê-a-xa, U-xi, Giô-ha-nan, Manh-ki-gia, Ê-lam, và Ê-xe. Những kẻ ca hát tiếng lớn, có Dít-ra-hia dẫn dắt.

使

nà rì , zhòng rén xiàn dà jì ér huān lè ; yīn wèi shén shǐ tā men dà dà huān lè , lián fù nǚ dài hái tóng yě dōu huān lè , shèn zhì yē lù sā lěng zhōng de huān shēng tīng dào yuǎn chù 。

Trong ngày đó, chúng dâng những của lễ trọng thể và vui vẻ; vì Đức Chúa Trời đã khiến cho chúng vui mừng khắp khởi; các người đàn bà và con trẻ cũng vui mừng nữa; sự vui mừng của thành Giê-ru-sa-lem vang ra rất xa.

dāng rì , pài rén guǎn lǐ kù fáng , jiāng jǔ jì 、 chū shú zhī wù hé suǒ qǔ de shí fēn zhī yī , jiù shì àn gè chéng tián dì , zhào lǜ fǎ suǒ dìng guī gěi jì sī hé lì wèi rén de fēn , dōu shōu zài lǐ tou 。 yóu dà rén yīn jì sī hé lì wèi rén gòng zhí , jiù huān lè le 。

Trong ngày đó, người ta lập kẻ coi sóc các phòng kho tàng về của lễ dâng giơ lên, về của đầu mùa, về thuế một phần mười, đặng thâu vào nó, tùy theo đồng của các thành, phần của những thầy tế lễ và người Lê-vi, mà luật pháp đã chỉ định; vì Giu-đa vui mừng nhân những thầy tế lễ và người Lê-vi đứng hầu việc.

jì sī lì wèi rén zūn shǒu shén suǒ fēn fù de , bìng shǒu jié jìng de lǐ 。 gē chàng de 、 shǒu mén de , zhào zhe dà wèi hé tā ér zi suǒ luó mén de mìng lìng yě rú cǐ xíng 。

Chúng luôn với những kẻ ca hát và kẻ giữ cửa đều giữ trách nhiệm của Đức Chúa Trời, và việc dọn mình thánh sạch, tùy theo mạng lịnh của Đa-vít và Sa-lô-môn, con trai người.

gǔ shí , zài dà wèi hé yà sà de rì zi , yǒu gē chàng de líng cháng , bìng yǒu zàn měi chēng xiè shén de shī gē 。

Vì ngày xưa, về đời Đa-vít và A-sáp, có những quan trưởng coi sóc những kẻ ca hát, và có bài hát khen ngợi cảm tạ Đức Chúa Trời.

dāng suǒ luó bā bó hé ní xī mǐ de shí hòu , yǐ sè liè zhòng rén jiāng gē chàng de 、 shǒu mén de , měi rì suǒ dāng dé de fēn gōng jǐ tā men , yòu gěi lì wèi rén dāng dé de fēn ; lì wèi rén yòu gěi yà lún de zǐ sūn dāng dé de fēn 。

Trong đời Xô-rô-ba-bên và Nê-hê-mi, cả Y-sơ-ra-ên đều cấp phần cho kẻ ca hát và người canh giữ cửa, ngày nào cần dùng theo ngày nấy; cũng để riêng phần của người Lê-vi, và người Lê-vi để riêng phần của con cháu A-rôn.

Tự kiểm tra chương này

Bài kiểm tra nhanh 10 từ.